Left direction
TROLLEY
TROLLEY
CASHEW NUT AUTOCLAVING MACHINE (ROTATING BARREL)
CASHEW NUT AUTOCLAVING MACHINE (ROTATING BARREL)
STEAM ON BATCH
STEAM ON BATCH
CONTINUOUS CASHEW NUT AUTOCLAVING MACHINE (CONVEY SCREW)
CONTINUOUS CASHEW NUT AUTOCLAVING MACHINE (CONVEY SCREW)
SIEVER SHAKER (SCREEN SHAKER)
SIEVER SHAKER (SCREEN SHAKER)
BOILER
BOILER
VACUUM PACKING TIN MACHINE
VACUUM PACKING TIN MACHINE
VACUUM PACKING MACHINE (PE)
VACUUM PACKING MACHINE (PE)
VACUUM PACKING MACHINE (COFFEE)
VACUUM PACKING MACHINE (COFFEE)
MEASURE MOISTURE
MEASURE MOISTURE
COFFEE SPINNER MACHINE
COFFEE SPINNER MACHINE
COFFEE GRINDING MACHINE
COFFEE GRINDING MACHINE
COFFEE GRINDING MACHINE
COFFEE GRINDING MACHINE
COFFEE FLOUR MIXING MACHINE
COFFEE FLOUR MIXING MACHINE
MEAL FLOUR MIXING MACHINE
MEAL FLOUR MIXING MACHINE
CASHEW PRESERVING MACHINE
CASHEW PRESERVING MACHINE
CASHEW DRYER
CASHEW DRYER
SCREENING MACHINE
SCREENING MACHINE
CASHEW ROASTING MACHINE
CASHEW ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
CASHEW GRADING MACHINE
CASHEW GRADING MACHINE
RAW CASHEW SIZE SORTING MACHINE
RAW CASHEW SIZE SORTING MACHINE
CASHEW CLASSIFY MACHINE
CASHEW CLASSIFY MACHINE
CASHEW CENTRIFUGE MACHINE
CASHEW CENTRIFUGE MACHINE
HUMIDIFIER
HUMIDIFIER
AUTOMATIC CASHEW SHELLING PROCESSING LINE
AUTOMATIC CASHEW SHELLING PROCESSING LINE
PNEUMATIC SCREW PUMP
PNEUMATIC SCREW PUMP
MÁY BÓC VỎ LỤA NHÂN ĐIỀU
MÁY BÓC VỎ LỤA NHÂN ĐIỀU
CASHEW SHELL SHOOTING MACHINE
CASHEW SHELL SHOOTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
SHELL PRESS MACHINE
SHELL PRESS MACHINE
CUTTING BLADE A,B,C,D
CUTTING BLADE A,B,C,D
OIL FRYING OVEN
OIL FRYING OVEN
TRAY DRYER
TRAY DRYER
ELEVATOR MACHINE
ELEVATOR MACHINE
AUTOMATIC FEEDER
AUTOMATIC FEEDER
COFFEE VIETNAM
COFFEE VIETNAM
CASHEW NUT CUTTING DESK
CASHEW NUT CUTTING DESK
Right direction
Home News & Events
Decrease font size  Default font size  Increase font size 
Nỗi niềm cây cà phê ở Tanzania Print

 Đất đai ở Tanzania rộng lớn, mỗi một hộ dân trung bình có khoảng 1ha đất canh tác, nhưng cây cà phê ở đây không canh tác tập trung dù chính phủ xác định đó là cây công nghiệp cốt lõi làm thay đổi cuộc sống của người bản địa

Thu hoạch và chế biến cà phê ở Tanzania

 

Những ngày tháng 2, người Moshi – Tanzania lại hối hả vào mùa thu hoạch cà phê. Những vùng đất đỏ bazan được tạo thành từ ngọn núi lửa Kilimanjaro đã giúp cây cà phê trở thành cây công nghiệp “cốt lõi” của vùng đất Đông Phi. Tuy nhiên, dù được chính phủ quan tâm nhưng với những gì đang diễn ra, việc phát triển cây cà phê ở Tanzania vẫn còn quá khó khăn.

 

Moshi là một thị trấn nhỏ với hình ảnh những người phụ nữ chân trần đội những chiếc thúng trên đầu mang những sản phẩm cây nhà lá vườn đến chợ vào sáng tinh mơ, hay những đứa trẻ lem luốc theo chân mẹ đến trường trên những con đường đất đỏ bazan.

Nơi đây còn có bạt ngàn vườn cây ăn trái và cà phê cùng những cung đường dốc quanh co, thỉnh thoảng đâu đó xuất hiện những cây baobap trên những đồi núi, tạo nên hình ảnh rất đặc trưng của châu Phi.

Kilimanjaro như một vị Thần núi bảo vệ cho cả thị trấn yên bình. Đứng bất cứ nơi đâu trong lòng phố tôi cũng đều thấy hình ảnh đỉnh núi được phủ lớp tuyết trắng xóa, để khi bình minh lên hay hoàng hôn đến, chúng phản chiếu ánh Mặt trời tạo thành sắc hồng tuyệt đẹp.

Buổi trưa, núi thoắt ẩn thoắt hiện trong những màn mây và đôi khi không còn nhận ra nơi phía đó có một ngọn núi hùng vĩ mà phải mất 6 ngày mới leo lên tới đỉnh.

Tôi theo chân anh Akida, người hướng dẫn tôi leo núi ngày mai, rảo bước đến ngôi làng cách trung tâm Moshi 2km để tìm hiểu thêm về văn hóa của người địa phương. Hình ảnh dòng suối nhỏ chảy qua làng với những đứa trẻ trần truồng nô đùa, tắm suối trông giống ở một làng quê nào đó ở các tỉnh cao nguyên Việt Nam.

Bên dưới những cây chuối to lá là những cây cà phê trĩu nặng những chùm trái đỏ rực. Anh Akida cho biết: “Đất đai ở Tanzania rộng lắm, mỗi một hộ dân trung bình có khoảng 1ha đất canh tác, nhưng cây cà phê ở đây không canh tác tập trung dù chính phủ xác định đó là cây công nghiệp cốt lõi làm thay đổi cuộc sống của người bản địa”.

Cây cà phê có nguồn gốc từ Ethiopia, được đưa đến Tanzania vào thế kỷ XVI. Hồi đó, không ai chú ý nhiều đến cây cà phê bởi người bản địa chỉ tập trung canh tác bắp và khoai tây, hai loại cây lương thực chủ yếu của vùng đất Đông Phi.

Chỉ có tộc người Haya trồng cây cà phê với mục đích sử dụng nội bộ. Khi Tanzania còn là thuộc địa của nước Đức, cây cà phê được khuyến khích canh tác rộng rãi và là cây hái ra tiền.

ca phe tanzania

Tuy nhiên, người Đức cũng vẫn chưa mặn mà đưa ra những chương trình đầu tư lớn vào các bộ lạc để canh tác cà phê theo dạng đồn điền hay nông trại. Cây cà phê của Tanzania chỉ được thế giới biết đến khi người Đức bắt đầu xuất khẩu từ 1905 – 1912.

Người Anh tập trung đầu tư canh tác cây cà phê khi Tanzania là thuộc địa của họ. Những trang trại được mở rộng và mở mới trên những vùng đất có thể trồng cây cà phê, đặc biệt quanh hai ngọn núi lửa Kilimanjaro và Meru.

Năm 1925, người Anh xuất khẩu 6.000 tấn cà phê từ Tanzania. Thập niên 80, cà phê được xem là cây công nghiệp tiềm năng có thể thay đổi cuộc sống cho các nông hộ.

Hiện nay, Tanzania nằm trong top 20 quốc gia xuất khẩu cà phê nhiều nhất thế giới với sản lượng hằng năm khoảng 55.000 tấn và thu về hơn 60 triệu USD.

Tôi ghé qua nhà bác Simon, một trong những người làm cà phê lâu năm tại Moshi. Bác cho biết: “Ở Tanzania, 70% cây cà phê giống Arabica và 30% còn lại giống Robusta. Diện tích canh tác cà phê khoảng 256.000ha, trong đó giống Arabica được trồng chủ yếu dọc theo sườn núi Kilimanjaro và Meru, trong khi giống Robusta được trồng dọc theo hồ Victoria ở vùng Kager”.

Bác Simon mời tôi thử qua hương vị của hai giống cà phê Arabica và Robusta được trồng ở hai vùng đất khác nhau. Arabica trái to hơn và có vị chua khi vừa đưa vào đầu lưỡi, nhưng sẽ ngọt hơn khi nuốt vào, trong khi Robusta trái nhỏ hơn và không chua, thơm mùi trái cây.

Bác Simon giải thích: “Hương vị một phần do đặc tính của giống, nhưng chính khoáng chất trong đất đỏ bazan được tạo thành từ núi lửa tạo nên sự khác biệt”.

Có khoảng 450.000 hộ canh tác cà phê và đóng góp 90% sản lượng xuất khẩu hằng năm, 10% sản lượng còn lại đến từ các doanh nghiệp, nông trường thuộc nhà nước. Việc canh tác cây cà phê giúp chính phủ giải quyết công ăn việc làm cho 2,4 triệu người trong khoảng 40 triệu người Tanzania.

che bien ca phe o Tanzania

Hớp một ngụm cà phê, bác Simon kể cho tôi nghe câu chuyện hơn 20 năm về trước khi cây cà phê được đưa đến đây như là loại cây trồng để xóa đói, bởi người Tanzania quanh năm suốt tháng chỉ biết canh tác cây bắp và cây khoai tây.

Ngày đó, người Moshi rất mơ hồ về loại cây giúp họ xóa đói và không hề biết các kỹ năng canh tác loại cây này, không biết liệu dịch bệnh có tấn công gây thiệt hại nặng nề cho cây cà phê giống như cây bắp, cây khoai tây khiến họ từng khốn đốn trước đây.

Thị trường để bán hạt cà phê vẫn còn quá xa lạ bởi nó không giống đội thúng khoai hay bắp ra chợ hằng ngày, đặc biệt họ không định được giá cà phê giống như các loại nông sản khác bởi nó biến động theo giá cà phê thế giới. Rồi cà phê là cây lâu năm nên họ không thể xoay xở đốn bỏ nếu canh tác không hiệu quả.

ca phe tanzania

Những cuộc chuyển giao hay tập huấn kỹ thuật về cây cà phê của chính phủ cho người dân quá ít, cùng với trình độ dân trí khá thấp và một chút bảo thủ nên việc triển khai kỹ thuật của nhà nước cũng gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, thu nhập hằng năm của nông dân quá thấp (200 USD/năm, bình quân cho cả Tanzania là 599 USD/năm), nên họ rất ngại đầu tư phân bón, thuốc trừ sâu, công lao động vào cây cà phê.

Do canh tác nhỏ lẻ nên cà phê được chế biến bằng phương pháp khô trước khi bán cho thương lái. Tuy nhiên, trong công nghệ chế biến cà phê hiện nay, người ta đã thay dần phương pháp khô bằng phương pháp ướt với máy móc hiện đại, giúp hàm lượng cafein trong hạt đạt sự ổn định cao. Lý do này đưa đến tình trạng cà phê Tanzania không đạt chất lượng như mong muốn khi xuất khẩu, khá ít thị trường chấp nhận.

Anh Akido cho biết, ở Tanzania có ba kênh giúp các nông hộ cà phê tiêu thụ sản phẩm làm ra: bán cho những lái buôn nhỏ lẻ thu mua lại, bán cho các thương lái thông qua những phiên chợ đấu giá được tổ chức thứ Năm hằng tuần khi mùa cà phê đến (kéo dài 9 tháng liền/năm) và bán cho những công ty chuyên về cà phê để xuất khẩu.

Đứng trước tình trạng sản lượng cũng như chất lượng của hạt cà phê không đạt, chính phủ Tanzania đưa ra chương trình dài hạn 10 năm (2011 – 2021) cho cây cà phê. Tầm nhìn của chương trình là “Xây dựng ngành công nghiệp cà phê Tanzania phát triển lâu dài và mang lại lợi nhuận cho hộ canh tác. Sản xuất cà phê với chất lượng quốc tế trên nền kinh tế vĩ mô bền vững, giảm bớt sự đói nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống của người Tanzania”.

Mục tiêu được chính phủ đặt ra để thực hiện tầm nhìn: Tăng sản lượng từ 50.000 tấn như hiện nay lên ít nhất 80.000 tấn vào năm 2016 và 100.000 tấn vào năm 2021.

Cải tiến chất lượng hạt cà phê qua việc gia tăng giá bán trên thị trường xuất khẩu, từ 35% hiện nay lên 70% vào năm 2021. Nâng cao năng suất hạt cà phê thấp nhất là 450 kg/ha vào năm 2021 (tăng 100%).

Có thêm 10.000ha cà phê được trồng mới. 70% cà phê sản xuất tại Tanzania đạt mức độ từ 1 – 7 và 75% cà phê nhóm Arabica xuất khẩu đến thị trường châu Âu vào năm 2021. 75% kim ngạch xuất khẩu từ cây cà phê được đầu tư lại cho 400.000 hộ trồng cà phê.

                                                                                                                                                                                          Theo Báo Doanh Nhân Sài Gòn

 
Cà phê : hai thị trường , hai cách chơi Print

 

Giá nhộn nhịp ngay đầu tháng

Thị trường cà phê nguyên liệu tại các tỉnh Tây nguyên trở nên sôi nổi ngay từ những ngày đầu tháng 7-2014 khi giá kỳ hạn robusta tại sàn Ice Liffe ở London có giá đóng cửa vượt khỏi mức cao nhất của tháng 6 vừa qua. Thật vậy, giá robusta sàn London đóng cửa khuya thứ Tư 2-7-2014 đạt mức 2047 đô la/tấn, vượt quá đỉnh của tháng 6-2014 13 đô la/tấn là 2034 đô la/tấn lập ngày 27-6 và cao rất xa so với mức thấp nhất của tháng trước đến 153 đô la/tấn.

 

Giá cà phê nguyên liệu trên thị trường nội địa ngày hôm qua thứ Năm 3-7 đã lên mức 40,5 triệu đồng/tấn, cao hơn 0,5 triệu đồng/tấn so với cách đấy một tuần. Mức này cũng đã chạm vào cuối tuần trước, nhưng rớt lại ngay trong mấy ngày đầu tuần do sức bán ra và chốt giá hàng đã gởi kho người mua khá mạnh.

“Đừng nghĩ rằng nếu giá xuống sâu hơn, người còn hàng sẽ bán ra tiếp. Từ nhiều ngày nay, giá dưới 40 triệu đồng/tấn đã rất khó mua, nên các nhà xuất khẩu rất ngại bán cho khách ngoại,” một đại lý ở thành phố Buôn Ma Thuột cho biết.

Quả vậy, khi giá kỳ hạn xuống sâu dưới 1900 đô la/tấn, mức chênh lệch của giá xuất khẩu giữa sàn kỳ hạn và FOB (giao hàng lên tàu) được chào bằng hay cao hơn giá niêm yết. Nên, giá kỳ hạn tăng mấy hôm nay đôi khi cũng do người ta phải mua hàng giấy trên sàn kỳ hạn và làm giá tăng để kéo giãn giá trừ lùi nhằm mua được hàng thực (physical) cũng nên, một nhà phân tích nhận định. Giá xuất khẩu loại 2, 5% đen bể sáng nay đang được chào trừ 30-40 đô la/tấn nhưng khách nhập khẩu đang trả trừ 60-65 đô la/tấn dưới giá niêm yết sàn robusta London.

Mỗi thị trường một cách đi

Một hiện tượng trên thị trường cà phê làm nhiều người vẫn chưa tìm ra lời giải: trong khi tin đồn arabica mất mùa, lượng bán ra từ nước xuất khẩu arabica hàng đầu vẫn mạnh dẫn đến giá trên sàn chuyên giao dịch arabica ở New York cứ sụt sùi liên tục. Trong khi đó, nhiều nhà chuyên môn đều có nhận định sản lượng robusta thế giới hầu như không hề hấn gì nhưng sức bán ra từ các nước chủ lực như Việt Nam, Indonesia giảm trông thấy.

Bộ Thương mại Brazil báo cáo xuất khẩu cà phê tháng 6-2014 đạt 2,6222 triệu bao, tăng gần 26% so với mức 2,0836 triệu bao ở cùng kỳ năm ngoái dù tin đồn Brazil bị hạn hán hoành hành đến nay vẫn chưa dứt.

Trong lúc đó, xuất khẩu cà phê tháng 6 của Indonesia giảm 41% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 6.897,62 tấn. Lũy kế xuất khẩu cà phê 9 tháng đầu niên vụ 2013/14 đạt 174.303,96 tấn, giảm 1,5% so với mức 177.303,96 tấn ở cùng kỳ niên vụ trước, thống kê của ngân hàng trung ương nước này tiết lộ.

Tổng cục Thống kế ước rằng xuất khẩu cà phê tháng 6-2014 của nước ta cũng giảm chỉ còn 110.000 tấn so với 137.400 tấn trong tháng 5 trước đó.

Đến nay, nhiều người tin rằng lượng arabica sẽ thiếu nhưng giá rất yếu, từ quanh mức 4.850 đô la/tấn vào giữa tháng 4-2014 xuống chỉ còn 3.815 đôla/tấn; còn robusta vẫn phải giao dịch chung quanh mức 2.000 đô la/tấn, là mức cao so với trước đấy chỉ 1.500-1600 đô la/tấn ở cuối năm 2013.

Yếu tố sản lượng, cung-cầu trong trường hợp này hầu như không quyết định giá thị trường mà có lẽ do một yếu tố khác. Phải chăng đó là do cách biết điều phối sức bán ra của các nước xuất khẩu cà phê robusta?

NGUYỄN QUANG BÌNH, SGTT SỐ 52 NGÀY 4-7-2014

 

 
Thị trường cà phê lon nguy cơ chưa nở đã tàn Print

 ca-phe-lon-7616-1404294546.jpg

Các tín đồ cà phê Starbucks mới đây khá hào hứng khi dòng sản phẩm cà phê đóng chai có mặt ở Việt Nam. 
 

Tuy nhiên, sự xuất hiện của "ông lớn" này được dự báo sẽ chung cảnh ngộ khó khăn của thị trường cà phê dạng lon tại Việt Nam sau 7 năm có mặt.

Bắt đầu vào thị trường Việt từ năm 2008, sản phẩm cà phê lon được Ajinomoto đem về nhằm tìm phân khúc khách hàng mới cho thị trường. Một năm sau đó Nestle (Thụy Sĩ) cũng muốn chia miếng bánh và nhanh chân đặt cơ sở sản xuất sản phẩm cà phê lon ngay tại nhà máy ở tỉnh Đồng Nai. Thời kỳ ấy, đơn vị này còn thực hiện chương trình uống thử miễn phí 100.000 lon tại các siêu thị, trường đại học và một số tụ điểm mua sắm, giải trí.

Thấy hai "đại gia" ngoại trong ngành thực phẩm chen chân vào phân khúc mới, ông lớn Vinamilk không muốn mất cơ hội nên một năm sau đó đã đầu tư 20 triệu USD xây dựng nhà máy sản xuất cà phê với các sản phẩm cà phê rang xay, hòa tan và lon. Cùng thời gian này, thị trường còn có thêm các gương mặt mới là cà phê sữa đóng chai của Tân Hiệp Phát và cà phê lon Highlands Coffee.

Duy trì được một thời gian, Vinamilk đã bán lại Nhà máy cà phê Sài Gòn cho Trung Nguyên. Đến giữa năm 2011, sự cố 31.000 sản phẩm cà phê lon của Highlands Coffee in lại hạn sử dụng trên vỏ lon khiến người tiêu dùng ái ngại, dẫn đến sức tiêu thụ của sản phẩm này dần mất dấu ấn.

 

 
 

Mới đây Trung Nguyên và Starbucks, Dao Coffe cũng chen chân vào giành thị phần. Trung Nguyên cho ra sản phẩm cà phê tươi đóng chai và hộp giấy với dung lượng 500ml-1lít. Gần đây nhất, cà phê đóng lon của Starbucks cũng xất hiện ở thị trường Việt Nam với giá 65.000-80.000 đồng, cao gấp 7 lần so với các loại cà phê lon của các hãng khác. Đại diện Starbucks tại Việt Nam cho biết cà phê Starbucks lon là do một đơn vị khác nhập khẩu vào nên chưa nở rộ lắm ở Việt Nam.

Dù xuất hiện khá dày đặc với sản phẩm đa dạng và quảng cáo rầm rộ trong thời gian dài, tuy nhiên, cà phê lon cho tới nay vẫn chưa được nhiều người tiêu dùng đón nhận. Nhiều sản phẩm thậm chí đã mất hút khỏi thị trường.

Khảo sát của VnExpress.net ở các hệ thống siêu thị và đại lý TP HCM, hầu hết sản phẩm cà phê lon của các thương hiệu lớn đã khuất bóng, chỉ còn một số xuất hiện trên kệ, và chiếm một vị trí nhỏ trong gian hàng đồ uống.

Nhân viên quản lý quầy đồ uống của Big C tại quận 2 cho biết cả mấy tháng nay siêu thị không lấy hàng mới, các sản phẩm cà phê lon trên kệ hầu như không có khách để ý. Hiện tại, hệ thống siêu thị này cũng chỉ đặt hàng với số lượng khiêm tốn và đặt ở góc nhỏ trong kệ đồ uống.

"Trong kho hiện cũng chỉ dự trữ 2-3 thùng, bởi lẽ, hàng bán không được nên siêu thị không dám trữ nhiều”, nhân viên tại đây cho hay.

Còn tại Co.opmart, trên kệ đồ uống chỉ còn xuất hiện cà phê Birdy của Ajinomoto. Theo nhân viên ở đây, loại cà phê lon này cũng hiếm khi được người tiêu dùng lựa chọn, và trên kệ cũng chỉ có vài chục lon được trưng bày.

Khi mới ra thị trường sản phẩm cà phê lon Birdy loại 170ml có giá 9.000 đồng thì nay chỉ còn 7.900 đồng.

Đại diện Công ty cà phê Trung Nguyên cho biết, hiện lượng cà phê tươi đóng chai của công ty tiêu thụ chậm, số lượng khá khiêm tốn. Công ty cũng đang giảm giá sản phẩm để kích cầu sức mua, tuy nhiên, cà phê phin và hòa tan vẫn là 2 sản phẩm  trụ cột. Mục đích công ty ra đời sản phẩm chai là để đa dạng hóa sản phẩm mở rộng thị phần. Tuy nhiên, thói quen này vẫn chưa được người tiêu dùng chấp nhận nhiều nên sản lượng và sức tiêu thụ còn thấp.

Cà phê lon không chỉ mất dấu ấn trong siêu thị, mà tại các đại lý nước giải khát TP HCM cũng không còn sức hút.

Chủ đại lý nước giải khát trên đường Ung Văn Khiêm (quận Bình Thạnh) cho biết, cách đây một năm, mỗi tháng đại lý này còn nhận một thùng để bán cho khách nhưng vì quá ế ẩm, mấy tháng mà không thấy khách hỏi nên chị đã không lấy hàng kể từ thời điểm đó.

Còn chị Thanh, chủ đại lý tạp hóa tại chợ Văn Thánh cũng cho hay, ban đầu thấy một số nhân viên cà phê lon chào hàng với giá ưu đãi và chiết khấu tốt nên chị nhận hàng. Thời kỳ đầu cũng giới thiệu với một số khách quen chuyên mua cà phê hòa tan, tuy nhiên, sau lần mua thử nghiệm đầu tiên, khách hàng không ưng ý với sản phẩm nên chị đã không lấy hàng nữa. Từ đó đến nay cửa hàng chị chỉ bán cà phê bột và cà phê hòa tan.

Anh Hùng, một khách hàng đã từng sử dụng sản phẩm cà phê lon cho hay, trước đây, khi du học bên Mỹ, anh thường uống cà phê lon của Starbucks vì xung quanh  không có quán cà phê nào.

"Vì lý do bất khả kháng tôi mới uống, chứ bình thường không thích cà phê lon. Bởi lẽ, hương vị cũng như chất lượng sản phẩm không hợp với khẩu vị của tôi, giá lại cao. Mặt khác, ở thị trường Việt Nam cà phê tươi có mặt trên mọi nẻo đường nên không nhất thiết phải mua sản phẩm pha sẵn", anh Hùng nói.

Ông Đoàn Triệu Nhạn, chuyên gia cao cấp của Hiệp hội Cà phê Việt Nam đánh giá, hương vị của cà phê lon chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Khẩu vị của người Việt Nam khác với các nước khác trên thế giới, nên việc cà phê lon không được ủng hộ nhiều ở thị trường Việt Nam là lẽ tất nhiên.

Xu hướng của người tiêu dùng là thích sử dụng cà phê rang xay, nguyên chất, vị đậm đà. Mặt khác, giá cả sản phẩm này không có chênh lệch nhiều so với cà phê rang xay tại chỗ nên khó có thể cạnh tranh được trên thị trường. Còn đối với sản phẩm cà phê lon của Starbucks, có chăng cũng chỉ đáp ứng số nhỏ du khách ngoại quốc, vì giá sản phẩm này quá cao so với nhu cầu của thị trường.

"Với thị hiếu của người Việt Nam, cà phê phin và hòa tan vẫn là lựa chọn tối ưu ngay cả trong tương lai. Cà phê lon dù không biến mất khỏi thị trường, nhưng cũng sẽ khó có đầu ra tốt", ông Nhạn nói.

Hồng Châu

 
Viet Nam Cashew machines make a mark Print

 

 
 
HCM CITY (VNS)— Viet Nam has taken great strides in cashew nut processing technology over the past few years, with local firms making 80 per cent of the machinery used by factories in the country.

The claim was made by Nguyen Thai Hoc, Chairman of the Viet Nam Cashew Association (VINACAS). Hoc said the machines have helped reduce the problem of labour shortage faced by cashew processing factories.

Machines are now used in all phases of cashew nut processing, especially in shell cutting and peeling phases, which previously required a large number of manual workers.

Pham Van Cong, Vinacas deputy chairman, said "The cashew industry faces fierce competition from other industries in terms of attracting labourers."

Currently, most young labourers want to work for foreign invested companies, and almost all workers at local cashew processing companies are in their forties. Processing firms therefore must use machines to solve their labour shortage, he said.

Shell cutter and peeling machines helped cut about 70 per cent of labour force required in these phases, he said.

Currently, more than 50 per cent of local cashew processing factories used locally made peeling machines, Hoc said, adding that the figure was expected to reach 100 per cent in the next two-three years.

Low price is one of the main advantages of locally made machines. A factory with a daily capacity of 5,000 tonnes can save 40 per cent of its investment cost if it chooses locally made machinery over imported ones.

Apart from the price, made-in-Viet Nam machinery also scored in performance, Hoc said.

"For example, a Vietnamese shell-cutting machine that is priced one-fourth of that from Italy can cut or split shells of different sizes of cashew nuts with lower loss rates," he said.

Thanks to these advantages, Indian businesses have been ordering cashew nut processing machines from Viet Nam, he added.

Despite these advantages, Vietnamese manufacturers should focus more on improving the products' accuracy and durability, Hoc said.

According to local cashew exporters, the use of machinery in cashew processing has not only helped address the issue of labour shortage, but also increased hygiene and safety of cashew products. — VNS

 
Viet Nam Cashew machines make a mark Print

 

 
 
HCM CITY (VNS)— Viet Nam has taken great strides in cashew nut processing technology over the past few years, with local firms making 80 per cent of the machinery used by factories in the country.

The claim was made by Nguyen Thai Hoc, Chairman of the Viet Nam Cashew Association (VINACAS). Hoc said the machines have helped reduce the problem of labour shortage faced by cashew processing factories.

Machines are now used in all phases of cashew nut processing, especially in shell cutting and peeling phases, which previously required a large number of manual workers.

Pham Van Cong, Vinacas deputy chairman, said "The cashew industry faces fierce competition from other industries in terms of attracting labourers."

Currently, most young labourers want to work for foreign invested companies, and almost all workers at local cashew processing companies are in their forties. Processing firms therefore must use machines to solve their labour shortage, he said.

Shell cutter and peeling machines helped cut about 70 per cent of labour force required in these phases, he said.

Currently, more than 50 per cent of local cashew processing factories used locally made peeling machines, Hoc said, adding that the figure was expected to reach 100 per cent in the next two-three years.

Low price is one of the main advantages of locally made machines. A factory with a daily capacity of 5,000 tonnes can save 40 per cent of its investment cost if it chooses locally made machinery over imported ones.

Apart from the price, made-in-Viet Nam machinery also scored in performance, Hoc said.

"For example, a Vietnamese shell-cutting machine that is priced one-fourth of that from Italy can cut or split shells of different sizes of cashew nuts with lower loss rates," he said.

Thanks to these advantages, Indian businesses have been ordering cashew nut processing machines from Viet Nam, he added.

Despite these advantages, Vietnamese manufacturers should focus more on improving the products' accuracy and durability, Hoc said.

According to local cashew exporters, the use of machinery in cashew processing has not only helped address the issue of labour shortage, but also increased hygiene and safety of cashew products. — VNS

 
How Vietnam became a coffee giant Print
A coffee farmer walking at his coffee farm in the suburbs of Buon Ma Thuot city in the central highland's province of Dak Lak, Vietnam, March 2013

Think of coffee and you will probably think of Brazil, Colombia, or maybe Ethiopia. But the world's second largest exporter today is Vietnam. How did its market share jump from 0.1% to 20% in just 30 years, and how has this rapid change affected the country?

When the Vietnam war ended in 1975 the country was on its knees, and economic policies copied from the Soviet union did nothing to help.

Collectivising agriculture proved to be a disaster, so in 1986 the Communist Party carried out a U-turn - placing a big bet, at the same time, on coffee.

Coffee production then grew by 20%-30% every year in the 1990s. The industry now employs about 2.6 million people, with beans grown on half a million smallholdings of two to three acres each.

This has helped transform the Vietnamese economy. In 1994 some 60% of Vietnamese lived under the poverty line, now less than 10% do.

Coffee Vietnamese style

  • Ca phe da - Coffee served on a bed of ice
  • Ca phe sua da - Coffee served with condensed milk, on ice
  • Ca phe trung - like a cappuccino, except with the addition of an egg or two
  • Kopi luwak - The process of making coffee by feeding beans to civets - a type of weasel - and then roasting the excreted beans

"The Vietnamese traditionally drank tea, like the Chinese, and still do," says Vietnam-based coffee consultant Will Frith.

Vietnamese people do drink it - sometimes with condensed milk, or in a cappuccino made with egg - but it's mainly grown as an export crop.

Coffee was introduced to Vietnam by the French in the 19th Century and a processing plant manufacturing instant coffee was functioning by 1950.

This is how most Vietnamese coffee is consumed, and is partly why about a quarter of coffee drunk in the UK comes from Vietnam.

British consumers still drink a lot more of that than of fancy coffees, such as espressos, lattes and cappuccinos.

High-end coffee shops mainly buy Arabica coffee beans, whereas Vietnam grows the hardier Robusta bean.

Arabica beans contain between 1% to 1.5% caffeine while Robusta has between 1.6% to 2.7% caffeine, making it taste more bitter.

There is a lot more to coffee, though, than caffeine.

"Complex flavour chemistry works to make up the flavours inherent in coffee," says Frith.

"Caffeine is such a small percentage of total content, especially compared to other alkaloids, that it has a very minute effect on flavour."

Some companies, like Nestle, have processing plants in Vietnam, which roast the beans and pack it.

But Thomas Copple, an economist at the International Coffee Organization in London, says most is exported as green beans and then processed elsewhere, in Germany for example.

While large numbers of Vietnamese have made a living from coffee, a few have become very rich.

Dang Nguyen Vu, aka Chairman Vu
Dang Le Nguyen Vu: Next step, an international coffee shop chain

Take for example multi-millionaire Dang Le Nguyen Vu. His company, Trung Nguyen Corporation, is based in Ho Chi Minh City - formerly Saigon - but his wealth is based in the Central Highlands around Buon Ma Thuot, the country's coffee capital.

Chairman Vu, as he is nicknamed, owns five Bentleys and 10 Ferraris and Forbes magazine assessed him to be worth $100m (£60m). That's in a country where the average annual income is $1,300 (£790).

The expansion of coffee has also had downsides, however.

Agricultural activity of any kind holds hidden dangers in Vietnam, because of the huge numbers of unexploded ordnance remaining in the ground after the Vietnam War. In one province, Quang Tri, 83% of fields are thought to contain bombs.

Environmentalists also warn that catastrophe is looming. WWF estimates that 40,000 square miles of forest have been cut down since 1973, some of it for coffee farms, and experts say much of the land used for coffee cultivation is steadily being exhausted.

Forest felled for crops to be planted

Vietnamese farmers are using too much water and fertiliser, says Dr Dave D'Haeze, a Belgian soil expert.

"There's this traditional belief that you need to do that and nobody has really been trained on how to produce coffee," he says.

Coffee shop in Hanoi
Hanoi has independent coffee shops - last year it got its first Starbucks

"Every farmer in Vietnam is the researcher of his own plot."

Some people from Vietnam's many ethnic minorities also say they have been forced off their land.

But Chairman Vu says coffee has been good for Vietnam.

He is now planning to set up an international chain of Vietnamese-style coffee shops.

"We want to bring Vietnamese coffee culture to the world. It isn't going to be easy but in the next year we want to compete with the big brands like Starbucks," he says.

"If we can take on and win over the US market we can conquer the whole world."

                                                                                                                                                                                                                 BBC News

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 13

Survey

Which of our product lines you care most?
 

Statistics

Content View Hits : 281491

Access Infor

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday55
mod_vvisit_counterThis week1037
mod_vvisit_counterThis month2385
mod_vvisit_counterAll516891

Số người trực tuyến

We have 15 guests online

Contact

SONVIET COMPANY

  • Hot line : +8498 4439 233 

M/s AQUAGEM COMPANY

  • Add : W203 , Wonder Futura , Mumbai - Bangalore Highway , Pune 411038 , India 
  • Tel : +91 9822064414