Left direction
TROLLEY
TROLLEY
CASHEW NUT AUTOCLAVING MACHINE (ROTATING BARREL)
CASHEW NUT AUTOCLAVING MACHINE (ROTATING BARREL)
STEAM ON BATCH
STEAM ON BATCH
CONTINUOUS CASHEW NUT AUTOCLAVING MACHINE (CONVEY SCREW)
CONTINUOUS CASHEW NUT AUTOCLAVING MACHINE (CONVEY SCREW)
SIEVER SHAKER (SCREEN SHAKER)
SIEVER SHAKER (SCREEN SHAKER)
BOILER
BOILER
VACUUM PACKING TIN MACHINE
VACUUM PACKING TIN MACHINE
VACUUM PACKING MACHINE (PE)
VACUUM PACKING MACHINE (PE)
VACUUM PACKING MACHINE (COFFEE)
VACUUM PACKING MACHINE (COFFEE)
MEASURE MOISTURE
MEASURE MOISTURE
COFFEE SPINNER MACHINE
COFFEE SPINNER MACHINE
COFFEE GRINDING MACHINE
COFFEE GRINDING MACHINE
COFFEE GRINDING MACHINE
COFFEE GRINDING MACHINE
COFFEE FLOUR MIXING MACHINE
COFFEE FLOUR MIXING MACHINE
MEAL FLOUR MIXING MACHINE
MEAL FLOUR MIXING MACHINE
CASHEW PRESERVING MACHINE
CASHEW PRESERVING MACHINE
CASHEW DRYER
CASHEW DRYER
SCREENING MACHINE
SCREENING MACHINE
CASHEW ROASTING MACHINE
CASHEW ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
CASHEW GRADING MACHINE
CASHEW GRADING MACHINE
RAW CASHEW SIZE SORTING MACHINE
RAW CASHEW SIZE SORTING MACHINE
CASHEW CLASSIFY MACHINE
CASHEW CLASSIFY MACHINE
CASHEW CENTRIFUGE MACHINE
CASHEW CENTRIFUGE MACHINE
HUMIDIFIER
HUMIDIFIER
AUTOMATIC CASHEW SHELLING PROCESSING LINE
AUTOMATIC CASHEW SHELLING PROCESSING LINE
PNEUMATIC SCREW PUMP
PNEUMATIC SCREW PUMP
MÁY BÓC VỎ LỤA NHÂN ĐIỀU
MÁY BÓC VỎ LỤA NHÂN ĐIỀU
CASHEW SHELL SHOOTING MACHINE
CASHEW SHELL SHOOTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
SHELL PRESS MACHINE
SHELL PRESS MACHINE
CUTTING BLADE A,B,C,D
CUTTING BLADE A,B,C,D
OIL FRYING OVEN
OIL FRYING OVEN
TRAY DRYER
TRAY DRYER
ELEVATOR MACHINE
ELEVATOR MACHINE
AUTOMATIC FEEDER
AUTOMATIC FEEDER
COFFEE VIETNAM
COFFEE VIETNAM
CASHEW NUT CUTTING DESK
CASHEW NUT CUTTING DESK
Right direction
Home News & Events
Decrease font size  Default font size  Increase font size 
Vỡ nợ cà phê - Ai bảo vệ nông dân? Print
Các đại gia vỡ nợ còn “được quyền” nói khi nào có mới trả, còn nông dân thì không thể trì hoãn với các khoản vay của ngân hàng, kể cả vay nóng lãi suất cao.

>> Tây Nguyên điên đảo vì vỡ nợ cà phê

Khó bỏ tù đại gia

Ông Huỳnh Minh Cảnh, thôn 2, xã Cư Dliê Mnông, huyện Cư Mgar, Đăk Lăk cùng nhiều hộ khác đã liên tiếp tố cáo đại lý cà phê Nga Sơn lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của dân nghèo. Sau một thời gian dài chờ đợi, những nông dân này được công an thông báo đã chuyển đơn đến TAND huyện để giải quyết dân sự.

Cũng như ông Cảnh, hơn 300 hộ khác được TAND huyện mời lên, song đến nay vẫn chưa lấy được tiền. “Nếu chủ đại lý không lừa đảo thì hàng trăm tấn cà phê của chúng tôi đi đâu? Họ kêu vỡ nợ nhưng vẫn ăn trắng mặc trơn, có của chìm của nổi, còn chúng tôi lâm cảnh khốn cùng” - ông Cảnh bức xúc.

Ở huyện Ea Hleo, ông Huỳnh Văn Hương - Trưởng phòng Kinh tế huyện - từng có văn bản đề nghị UBND huyện chỉ đạo khởi tố hàng loạt “đại gia” vỡ nợ như Trang Hoàn, Hải Kiểm, Hiệp Hương, Huỳnh Văn Hương... Ông còn đề nghị huyện hỗ trợ tiền cho công an để thực hiện. Nhưng rồi mọi việc cũng rơi vào im lặng, chỉ có những bản án dân sự của tòa mà cơ quan thi hành án luôn... bó tay.

Thẩm phán Trần Ngọc Anh - Chánh án TAND huyện Krông Năng - cho biết: “Khởi kiện các doanh nghiệp, đại lý cà phê vỡ nợ thì cũng như không, bởi con nợ đã chủ động tẩu tán tài sản trước khi tuyên bố vỡ nợ”.

Thực tế đúng như vậy. Vừa rồi 96 hộ dân tại thị trấn Krông Năng và các xã Phú Lộc, Ea Toh, Ea Hồ nhận được quyết định của TAND huyện Krông Năng mà không khỏi hối hận. Bởi đại lý cà phê Hiệp Gái (xã Phú Lộc) nợ họ số cà phê trị giá 7,561 tỷ đồng mà tài sản còn lại chỉ bằng 0,03%.

Theo UBND tỉnh Đăk Lăk, do hai bên không lập hợp đồng ký gửi hoặc giấy tờ khác quy định trách nhiệm, nghĩa vụ mà chỉ có biên nhận nên việc thu thập tài liệu, chứng cứ để chứng minh dấu hiệu lừa đảo của doanh nghiệp, đại lý gặp nhiều khó khăn.

Ký gửi cà phê - ai quản?

Khi tìm hiểu thực trạng doanh nghiệp, đại lý cà phê vỡ nợ hàng loạt, chúng tôi đã gõ cửa không ít cơ quan chức năng ở Đăk Lăk và cả Đăk Nông để tìm câu trả lời. Ông Lê Quốc Lương - Phó Chủ tịch UBND huyện Đăk Mil (Đăk Nông) cho biết, ông có nghe thông tin vỡ nợ trên địa bàn huyện, nhưng chưa thấy cơ quan chức năng và chính quyền xã báo cáo.

Còn ông Biện Văn Minh - Giám đốc Sở Công Thương Đăk Nông thì kêu khó: “Công tác quản lý lĩnh vực kinh doanh, ký gửi cà phê hiện nay rất lỏng lẻo. Các doanh nghiệp, đại lý đăng ký kinh doanh qua Sở kế hoạch và Đầu tư, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện, còn ngành thuế thì chỉ lo thu thuế. Sở Công Thương mặc dù quản lý nhà nước về thương mại, nhưng không có văn bản nào nói chúng tôi được kiểm tra, quản lý các doanh nghiệp và hộ kinh doanh này. Chúng tôi chỉ nắm số liệu thu, mua xuất khẩu hàng quý của họ mà đã khó, họ bảo chúng tôi hỏi để làm cái gì...”.
Liên ngành Công an, Viện Kiểm sát, TAND tỉnh đã ban hành hướng dẫn xử lý vỡ nợ cà phê, cụ thể hóa dấu hiệu lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tranh chấp dân sự. Mặc dù vậy, các cơ quan bảo vệ pháp luật vẫn còn... phân vân.
 
Còn tại Đăk Lăk, Sở Công Thương từng tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tư pháp xây dựng quy định về kinh doanh, ký gửi cà phê. Sau đó Bộ Công Thương và Sở Tư pháp không đồng ý nên hoạt động ký gửi vẫn ngoài tầm kiểm soát.

Nói cho công bằng thì với kho tàng, thiết bị và quan hệ khách hàng, đại lý có khả năng chế biến và bán hàng tốt hơn nông dân, ngoài ra còn giải quyết khâu sơ chế, tạm trữ, ứng vốn cho nông dân. Nhưng suy cho cùng thì đại lý chỉ mượn vốn nông dân để kinh doanh, thông qua việc luân chuyển hàng nghìn tấn cà phê mỗi vụ. Vào thời điểm khó khăn, giá cả trồi sụt, đại lý rất dễ mắc sai lầm và kéo nông dân vào cuộc - giả sử không lừa đảo. Như vậy ký gửi cà phê vẫn là cuộc chơi đầy bất trắc, nông dân chỉ biết trông chờ vào lòng tốt và tài kinh doanh của đại lý.
 
Cà phê Việt Nam được giá cao trên thị trường thế giới Print
Giá cà phê của Indonesia trong khi đó lại đang sụt giảm do nguồn cung dồi dào.

Hãng Bloomberg dẫn nguồn tin từ công ty Volcafe cho biết, các khách hàng đang giảm giá cộng đối với cà phê của Indonesia – nước sản xuất cà phê robusta lớn thứ 3 thế giới - do nguồn cung tăng.

Cà phê Indonesia giao tháng 6 và tháng 7 hiện có giá cộng 50 USD/tấn so với giá giao tháng 7 trên sàn NYSE Liffe ở London, thấp hơn so với mức giá cộng 70 USD cách đây 1 tuần. Cách đây hơn 1 tháng, khi nước này chưa vào vụ thu hoạch, cà phê có giá cộng lên tới 300 - 400 USD/tấn.

Số liệu của Volcafe cho thấy, nguồn cung cà phê tới các cảng của Indonesia tuần này lên tới 8.000 tấn, so với 6.000 – 6.500 tấn của tuần trước. Dẫu vậy, mưa ở một số vùng có thể cản trở nguồn hàng trong tuần tới.

Còn với Việt Nam, nước sản xuất cà phê robusta lớn nhất thế giới, giao dịch mấy ngày hôm nay đang chậm lại do giá ở thị trường nội địa tăng vọt, có nơi lên tới 44.000 đồng/kg tức 2,11 USD/kg – mức cao chưa từng thấy trong năm nay. Các nhà xuất khẩu đang tìm mua hàng trong dân và hạn chế chào bán ra nước ngoài.

Cà phê xuất khẩu của Việt Nam loại giao tháng 6 hoặc tháng 7 hiện có giá trừ lùi 10 USD/tấn so với giá giao tháng 7 tại London, không đổi so với tuần trước song tăng đáng kể so với mức trừ lùi 30 USD/tấn cách đây vài tuần.

Trên sàn NYSE Liffe tại London, giá cà phê giao tháng 7 chốt phiên 25/5 ở mức 2.241 USD/tấn, tăng 18 USD so với phiên liền trước. Đây cũng là mức giá đóng cửa cao nhất kể từ ngày 5/9/2011.
 
Giá cà phê “lội ngược dòng” thế giới Print
Trong khi giá cà phê trên thế giới với xu hướng giảm, thì riêng Việt Nam là nước chủ lực về sản xuất cà phê robusta lại có giá xuất khẩu cà phê liên tục tăng mạnh từ đầu năm đến nay.

Thành quả này có được một mặt là nhờ nông dân trồng cà phê nước ta đã trở thành những “nhà kinh doanh” rất kỷ luật, mặt khác được hưởng lợi từ diễn biến trái chiều giữa 2 loại cà phê trên thị trường thế giới.

Từ cuối tháng 5/2012 đến nay, giá cà phê nhân trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên liên tục tăng cao, đạt ngưỡng cao nhất trong vòng 10 tháng qua. Đến thời điểm này, giá cà phê nhân xô đã đạt 43.000 đồng/kg, cà phê loại R1C là 44.100 đồng/kg và cà phê loại R1A có giá 44.300 đồng/kg.

Giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam có giá ngang với giá trên sàn Liffe ở London. Cà phê giao trong tháng 6 và 7, mức giá tuần này được khách hàng trả ngang giá giao dịch trên sàn Liffe, tăng 10 USD so với tuần trước, hiện giá FOB đạt từ 2.100 - 2.200 USD/tấn (tùy loại).

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, xuất khẩu 5 tháng đạt 860 ngàn tấn, kim ngạch gần 1,8 tỷ USD, so cùng kỳ năm trước tăng cả về lượng (7,8%) và giá trị (3%). Giá cà phê xuất khẩu bình quân 5 tháng là 2.087 USD/tấn.

Hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam là Đức và Hoa  Kỳ đều tăng trưởng khá cả về lượng và giá trị. Đáng chú ý là thị trường Indonesia tăng trưởng đột biến, gấp 8 lần so với cùng kỳ năm 2011.

Như vậy, với sản lượng cả niên vụ 2011-2012 là 1,3 triệu tấn, đến nay Việt Nam đã xuất hơn 1,05 triệu tấn. Lý giải giá cà phê Việt Nam “lội ngược dòng” thị trường cà phê thế giới, là bởi hiện đang có diễn biến trái chiều giữa hai loại cà phê arabica và robusta.

Trên thế giới, arabica (cà phê chè) vốn được coi là loại cà phê chất lượng cao, năng suất thấp nên giá thường đắt gấp 2 lần so với cà phê robusta. Việt Nam chủ yếu trồng cà phê robusta (cà phê vối) là loại cà phê có giá bán thấp, nhưng năng suất cao gấp nhiều lần cà phê arabica.


Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
xuất khẩu 5 tháng đạt 860 ngàn tấn, kim ngạch gần 1,8 tỷ USD.

Chỉ trong vòng 20 năm qua, Việt Nam đã vươn lên đứng thứ nhất thế giới về sản xuất cà phê robusta. Trong nhiều năm, hai thị trường cà phê lớn là sàn ICE (New York), nơi giao dịch arabica và sàn Liffe (London) chuyên giao dịch robusta thường xuyên bị thống trị bởi những nhà sản xuất chuyên nghiệp như Nestle và những nhà buôn lớn như Louis Dreyfus Commodities.

Nếu như trước đây, thế giới ưa chuộng cà phê arabica vì độ thơm ngon, thì nay nhu cầu tiêu dùng cà phê robusta ngày càng tăng cao, vì hai lẽ, cà phê robusta chế biến thuận lợi hơn và giá rẻ hơn dễ được người tiêu dùng chấp nhận trong giai đoạn khủng hoảng tài chính hiện nay.

Giá cà phê robusta thế giới biến động tăng mạnh trong tháng 5/2012 và tiếp tục giữ được đà tăng trong tháng 6, trong khi giá cà phê arabica vẫn có xu hướng giảm. Giá cà phê robusta đã tăng 23% trong năm nay do nhu cầu tăng cao, đặc biệt là ở các thị trường mới nổi. Nhu cầu cà phê sẽ tăng khoảng 2% trong năm nay.

Theo Tập đoàn môi giới London-Spectron Marex, sự tăng trưởng ngành hàng cà phê chủ yếu đến từ cà phê robusta. Hãng này cho biết, xu hướng tăng nhu cầu cà phê robusta làm cho thị trường cà phê robusta toàn cầu thắt chặt, dẫn đến giảm dự trữ cà phê châu Âu. Khoảng cách giá giữa abrica và robusta đã thu hút giới đầu tư cà phê thế giới đổ tiền vào robusta.

Việt Nam ít nhiều được kỳ vọng sẽ hưởng lợi nhờ sự “đổi ngôi” này. Từ đầu năm, giá arabica - hạt cà phê chất lượng cao được chuyên dùng chế biến espresso, đã giảm hơn 20% trong khi giá robusta, thường được sử dụng sản xuất cà phê hòa tan, lại tăng gần 10%. Nhu cầu hạt cà phê chất lượng thấp hơn ngày càng tăng mạnh đã đẩy giá cà phê robusta, kéo ngắn khoảng cách giá của hai loại hạt cà phê.

Tại châu Âu, thương gia và giới phân tích cho rằng nhu cầu robusta cho các loại cà phê hỗn hợp của các nhà sản xuất cà phê khi kinh tế đi xuống cũng đã làm ảnh hưởng đến giá trị rổ hàng hóa của những người tiêu dùng bình thường.

Giá robusta bị đẩy lên cao còn là bởi nông dân Việt Nam găm hàng và chỉ bán khi giá vượt mức hơn 40 nghìn đ/kg thì mới bán ra. Lạm phát cao ở Việt Nam cũng đồng nghĩa với việc nông dân cũng sẽ thích găm hàng hơn là giữ tiền mặt.

Ông Markus Brüschweiler, Giám đốc thu mua của United Coffe nhận xét: nông dân Việt Nam hiện đã trở thành những nhà buôn rất kỷ luật. Việc nông dân phát triển loại cà phê robusta thay vì loại arabica là hoàn toàn đúng đắn.

 
Vì sao các doanh nghiệp kinh doanh cà-phê ở Tây Nguyên thua lỗ? Print
Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện gần 100 doanh nghiệp (DN), đại lý, hộ kinh doanh cà-phê trên địa bàn Tây Nguyên đã và đang"vỡ nợ" với con số có thể lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Ðáng chú ý số đại lý"vỡ nợ" vẫn đang không ngừng tăng. Vậy đâu là nguyên nhân và biện pháp khắc phục?

Hiện trên địa bàn tỉnh Ðác Lắc có 43 doanh nghiệp, đại lý kinh doanh cà-phê vỡ nợ, mất khả năng thanh toán khoảng 300 tỷ đồng và 3.000 tấn cà-phê nhân, trong số đó có nhiều DN kinh doanh cà-phê"có tiếng" ở Buôn Hồ, Ea Hếleo... Ở phần lớn các vụ"vỡ nợ", không phải vì trữ kho nhiều và giá cà-phê giảm khiến DN bị thua lỗ, mà phần lớn các DN đều gặp khó khăn về thanh khoản khi giá cà-phê tăng. Nguyên  nhân chính của tình trạng này là do thói quen giao dịch của bà con và DN đã được hình thành từ nhiều năm nay. Việc nông dân gửi cà-phê sau thu hoạch vào kho của đại lý hay DN và chốt giá sau, tạo cơ hội giúp các DN chiếm dụng vốn. Về bản chất, đây là hoạt động tốt và giúp cho cả DN sử dụng tốt hơn nguồn vốn kinh doanh và người nông dân tiết kiệm được chi phí chế biến, bảo quản và tiếp cận được nguồn hỗ trợ tài chính từ phía đại lý, DN trong quá trình canh tác. Song vấn đề này chỉ phát huy tác dụng khi DN thực hiện tốt công tác quản trị rủi ro và quản trị dòng vốn, như sự việc đã xảy ra tại Công ty CP Ðầu tư và XNK cà-phê Tây Nguyên (Vinacafe Buôn Ma Thuột) -"ông lớn" từng được Hiệp hội Cà phê thế giới xếp hạng Công ty xuất khẩu đơn lẻ lớn nhất toàn cầu nay đang đối mặt với khoản nợ lên đến gần 2.000 tỷ đồng mà nguyên do chỉ vì DN đã"lỡ" bán phần lớn hàng hóa cà-phê do nông dân, đại lý trung gian ký gửi với kỳ vọng khi giá hàng hóa rẻ đi, sẽ mua lại để"bù vào"; nhưng ngược dự đoán giá ngày càng tăng khiến DN thua lỗ. Bên cạnh hệ quả đó, còn có nhiều nguyên nhân dẫn đến hoạt động thua lỗ và nợ của DN, như chính Tổng Giám đốc Vinacafe Buôn Ma Thuột Vũ Ðức Tiến cho biết: Ðó là biến động của tỷ giá, việc đầu tư vốn vào tài sản chưa thể lập tức khấu hao, hàng tồn kho..., mà về bản chất chung, vẫn là do DN thiếu quản trị rủi ro và quản trị dòng vốn.


Thực trạng kinh doanh dẫn đến"vỡ nợ" của các DN, đại lý cà-phê là vậy. Thiết nghĩ, để tránh tình trạng mạnh ai nấy làm thì một sự buôn bán tập trung, có tổ chức là rất cần thiết. Hiện, Sở Công thương tỉnh Ðác Lắc thành lập Trung tâm Giao dịch cà-phê Buôn Ma Thuột (BCEC). Tiếc là  đến nay,"khu chợ tập trung" được tổ chức theo các quy tắc công bằng, minh bạch cho các bên tham gia này vẫn chưa thu hút nhiều người cùng vào"chợ" để mua hoặc bán. Về mặt lý thuyết sàn giao dịch hàng hóa (GDHH) sẽ là nền tảng cho việc thiết lập quan hệ mua bán công bằng và cùng có lợi. Theo đó, các bên mua và bán có thể chủ động trong việc xác định giá mua, giá bán sao cho có lợi và phù hợp nhất cho mình. Vì là chợ giao dịch tập trung, cho nên thông tin được công bố và cập nhật thường xuyên. Các thông tin đó được phản ánh ngay vào giá và điều này giúp thị trường giao dịch được hoàn hảo hơn. Ðứng trên lợi ích này, người sản xuất có cơ hội tiếp cận nhiều đối tác mua hàng và chủ động trong việc định đoạt giá bán, củng cố được vị thế của mình. Ðối với DN, mặc dù mất đi một số lợi thế trong việc đàm phán về giá cả, bù lại họ có thể tiếp cận được nguồn hàng với khối lượng lớn.

Ðáng tiếc là hiện nông dân trồng cà-phê ở Tây Nguyên vẫn có thói quen mua đứt bán đoạn. Dù số lượng bán ra là không nhiều và chủ yếu đáp ứng nhu cầu về tài chính ngắn hạn, như thanh toán nợ và đáp ứng các hoạt động sinh hoạt hằng ngày, điều đó khiến người trồng cà-phê không thấy có nhu cầu phải thích nghi, tập làm quen với một"chợ" giao dịch tập trung. Do đó các cơ quan có liên quan cần phải giải thích để nông dân thấy được lợi ích khi GDHH chuyên nghiệp, giúp bảo đảm tính thanh khoản, tính công bằng, an toàn và thuận lợi cho người tham gia cũng như cơ chế, chính sách hỗ trợ để người sản xuất và DN thấy được lợi ích khi kinh doanh XNK"phá" đi tập quán, thói quen cũ, Từ đó có động lực chủ động lên sàn tham gia giao dịch. Ðồng thời, xây dựng một cơ chế phù hợp để thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư tài chính, có như vậy mới tránh được"vỡ nợ" như hiện nay ở DN kinh doanh cà-phê trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên.
 
Cà phê Trung Nguyên - Giấc mơ từ làng quê nghèo Print

Ra đời vào giữa năm 1996 -Trung Nguyên là 1 nhãn hiệu cà phê non trẻ của Việt Nam, nhưng đã nhanh chóng tạo dựng được uy tín và trở thành thương hiệu cà phê quen thuộc nhất đối với người tiêu dùng cả trong và ngoài nước.

Giấc mơ từ làng quê nghèo

Hồi ức về những ngày tháng khởi nghiệp đầy lận đận và gian khó của ông Đặng Lê Nguyên Vũ, Giám đốc Công ty Cà phê Trung Nguyên. "Tôi có thể nói không sợ quá lời rằng sự xuất hiện của Trung Nguyên đã mang lại một không khí thưởng thức cà phê mới tại Việt Nam, và ở nhiều nơi trên thế giới giờ đây nói đến cà phê Việt Nam là người ta đều biết tới thương hiệu Trung Nguyên.

Tuổi thơ thời đi học của tôi là cảnh lội bộ trên con đường đất đỏ dài 15km trong suốt chín năm, ngày nắng cũng như mưa. Niềm vui trên con đường dài đến trường và về nhà là khi đi ngang qua trạm thuế vụ, thỉnh thoảng có được quả chuối chín hoặc vài củ khoai lang ăn sống của những người buôn bán tốt bụng cho.

Vui nhất là khi có thể quá giang phía sau chiếc xe chở gạch về nhà khi đôi chân đã muốn quị vì lội bộ. Năm tôi vào lớp 10, gia đình mua cho chiếc xe đạp cũ để lên Buôn Ma Thuột đi học.

Năm 1990, tôi thi đậu Đại học Y khoa Tây nguyên; từ xã Madrăk hẻo lánh, mẹ tôi phải bán đi nhiều tạ lúa và nhiều thứ khác trong nhà để tôi lên Buôn Ma Thuột nhập học. Những ngày học ở trường y, lúc nào tôi cũng trăn trở về công việc và cuộc sống của người thầy thuốc. Càng học lên, điều đó càng bứt rứt trong lòng tôi. Muốn có cuộc sống khấm khá hơn, phần nhiều những người học y chúng tôi đã quên lời thề Hippocrate. Xót xa quá! Và với tôi, cách tốt nhất không vi phạm lời thề là... bỏ nó luôn, làm việc khác. Nhưng làm gì đây?

Làm gì ở tuổi 22 tôi chưa biết được. Nhưng luôn thiêu đốt tôi là phải làm được điều gì đó để đổi đời, không thể nghèo mãi được. Mẹ tôi lam lũ quanh năm đầu tắt mặt tối, suốt ngày mặt người lẫn trong ruộng rau lang, chiếc nón cũ hiếm khi rời khỏi đầu. Tôi luôn hình dung lại được cảnh mẹ tôi nặng nhọc bưng từng chồng gạch, hay tất tả chạy ra ruộng rau lang hái đọt non đem bán kiếm miếng ăn cho cả nhà.

Mẹ tôi nghĩ cuộc sống nghèo khổ của gia đình chúng tôi là số mệnh ở trời. Mỗi lần tôi về thăm nhà thì mẹ tôi vừa vui vừa lo. Vui vì có con trai về thăm nhà và lo vì khi tôi rời nhà, bà cụ phải chạy vạy một hai trăm ngàn cho tôi làm lộ phí đến trường. Tôi không bao giờ quên được cái ngày tăm tối đó, khi bố tôi đổ bệnh nặng mà chạy vạy khắp trong dòng tộc không làm sao kiếm đủ 2 triệu đồng cho ông chữa bệnh!

Tôi ở trọ tại Buôn Ma Thuột và làm công luôn cho nhà trọ này: làm cỏ, hái cà phê, đem cơm nước cho nhân công ở rẫy... Ngày còn bé ở làng, tôi đã thạo hết những việc này.

“Đạp tung giường chiếu hẹp”

Tôi luôn nghĩ về những người trồng cà phê, làm vườn lam lũ như bố mẹ tôi. Tôi biết cà phê rất có giá nhưng không biết vì sao người trồng cà phê lại rất nghèo. Nhưng người trồng cà phê vẫn nhẫn nại mỗi ngày cháy da trên nương rẫy, như mẹ tôi, không lời thở than. Tôi không chịu được vậy. Nghĩ tới sự cam chịu là huyết quản tôi sôi sùng sục. Miếng ăn lúc đó đối với tôi không quan trọng bằng suy nghĩ phải sống như thế nào.

Mẹ tôi đã khóc gần như hết nước mắt khi tôi quyết định dứt áo ra đi. Nhiều bạn trong lớp bảo tôi... không bình thường, chỉ có ba người bạn có thể hiểu và chia sẻ được những điều tôi nghĩ – đó là không chấp nhận “ngủ trong giường chiếu hẹp, mơ những giấc mơ con”. Đám bạn vét hết tiền trong túi nhét cho tôi được gần 100.000 đồng.

Tôi ra bến xe đi vào Sài Gòn với một mảnh giấy nhỏ ba tôi ghi tên người chú và địa chỉ nhà ở khu vực Tạ Thu Thâu. 6 giờ sáng, đến bến xe miền Đông, trong túi tôi còn đúng 20.000 đồng. Gọi một ly cà phê vỉa hè 2.000 đồng, tôi ngồi nhâm nhi và mở to mắt nhìn Sài Gòn cho biết. Thành phố to quá, ngoài sự tưởng tượng của tôi. Tôi có cảm giác mình đã bước sang một thế giới hoàn toàn khác...

Quay lại giảng đường Đại học!

Chú tôi người Đà Nẵng, vào sống ở Sài Gòn đã lâu. Tôi chưa từng gặp mặt ông và dĩ nhiên ông cũng không thể biết có một đứa cháu là tôi. Mãi đến trưa chú tôi vẫn chưa về. Mệt, đói và buồn ngủ khủng khiếp. Tôi chỉ còn hơn 10.000 đồng, không thể phung phí được. Sau này, thỉnh thoảng tôi vẫn tìm lại cái góc nhà nơi mình đã ngồi lần đầu tiên khi đặt chân đến Sài Gòn.

May sao quá trưa thì có người bà con từ Đà Nẵng vào. Thím tôi báo vụ việc với người bà con và tôi được gọi vào nhà. Việc đầu tiên là đánh một giấc tới xế chiều. Mở mắt ra đã thấy chú tôi đợi sẵn. Hai chú cháu hàn huyên tâm sự. Tôi bày tỏ nỗi lòng của mình: một, quyết đi không trở lại; hai, việc gì cũng làm; ba, phải đổi đời. Tôi kể với chú những điều tôi nung nấu. Về chuyện nghèo là nhục. Về chuyện ba tôi bệnh mà cả dòng tộc không thể đào đâu ra đủ 2 triệu đồng…

Chú tôi nghe tất cả nhưng rồi “gút”: “Tất cả những điều cháu nung nấu đều đúng nhưng không phải lúc này. Việc lúc này là học cho xong cái đã”. Cuối cùng ông hứa: học cho xong đi rồi xuống Sài Gòn ông giúp cho làm ăn. Còn trước mắt cứ ở chơi, chừng nào chán thì về. Tôi ở đúng 10 ngày thì đầu óc dịu lại, nghĩ đến việc phải về tiếp tục học.

Hôm về, chú mua cho vé máy bay. Lần đầu tiên bay lên bầu trời, tôi đã sớm có mơ ước được bay đi khắp thế giới. Từ trên cao nhìn xuống mới thấy chuyện trần gian khổ nhọc sao mà nhỏ bé, tôi thấy bình tâm hơn trước dù những khao khát vẫn đang sùng sục trong huyết quản. Tôi trở lại giảng đường đại học để bắt đầu con đường riêng.

Lận đận trong khởi nghiệp

Tôi có ba đứa bạn rất thân cùng phòng trọ. Có lẽ là đứa nghèo nhất trong đám nên tôi cũng là người sùng sục trước nhất về chuyện phải làm ra tiền, phải làm giàu. Tôi nghĩ: Tại sao nông dân trồng cà phê vẫn nghèo trong khi trên thế giới có quốc gia không trồng được cây cà phê nào vẫn giàu vì cà phê? Tại sao cà phê mình chỉ để xuất hạt thô mà không chế biến để xuất khẩu? Bốn thằng chúng tôi cùng chia sẻ suy nghĩ này và hùn tiền lại mua một lò rang cà phê.

Thuận lợi của chúng tôi lúc đó là trong trường có đông sinh viên tứ xứ nên qua họ chúng tôi biết được nơi nào có cà phê ngon. Ở Tuy Hòa có một quán cà phê rất ngon nên ngày nghỉ chúng tôi đi xe đến để hỏi dò bí quyết nơi bà chủ quán. Khi chúng tôi trình bày lý do và nguyện vọng của mình, bà chủ quán thật sự cảm thông với mấy thằng sinh viên khố rách áo ôm. Đêm đến, trở về Buôn Ma Thuột trong chuyến xe khuya, chúng tôi có trong tay bí quyết rang xay cà phê ngon của bà chủ quán tốt bụng.

Ngày khai trương lò rang cà phê, chúng tôi cũng tổ chức cúng để lấy hên, nhưng khi vừa cúng xong thì người bà con của ông chủ nhà về đã hất đổ mọi thứ, cắt bỏ hết dây điện. Chúng tôi đành phải chuyển lò rang đi nơi khác. Lò quay bằng tay, đốt bằng củi, hôm nào rang cà phê, bên dưới là mấy thằng ngồi học bài trên cái gác gỗ như bị nướng trong lò bát quái. Có vài vị hàng xóm sợ có ngày chúng tôi sẽ thiêu rụi nhà họ nên đi báo công an. Thế là một lần nữa lò rang của chúng tôi đành phải dẹp.

Nhưng cũng có người giang tay với chúng tôi. Chúng tôi nhận về mỗi lần vài ba ký, rang, xay, đóng gói và chia nhau đi bỏ mối ở các quán. Sau đó thu tiền lại, trả và mượn tiếp vài ký khác. Logo của những bịch cà phê Trung Nguyên lúc đó là một mũi tên chĩa thẳng lên trời. Hình ảnh đơn giản ấy đã chứa trong đó biết bao khát vọng của tôi.

Thế rồi thương hiệu cà phê Trung Nguyên của nhóm “mấy thằng sinh viên khùng khùng” chúng tôi bắt đầu được chú ý và đã có khách uống cà phê ưa chuộng. Chúng tôi biết tuyển những hạt ngon để làm ra những phin cà phê đậm đà, thơm lừng. Năm 1996, chúng tôi quyết định “bung ra”. Khi “hãng” cà phê Trung Nguyên khai trương bảng hiệu ở cây số 3 (thành phố Buôn Ma Thuột) thì dân cư ở đây ai cũng phì cười trước cái “tổng hành dinh” ọp ẹp phát khiếp ấy! Toàn bộ bảng hiệu của “hãng” đều do chúng tôi bò ra tự vẽ, tự sơn phết cả đêm để kịp sáng mai khai trương. Mà khách hàng ngày khai trương không ai khác chính là những người bạn sinh viên học cùng trường, cùng lớp đến uống chung vui với chúng tôi.

Đó là một sự kiện trọng đại trong đời tôi và lịch sử phát triển của thương hiệu cà phê Trung Nguyên. Ngồi trong cái hãng nhỏ bé đáng tự hào của mình ở phố núi, tôi căng mắt nhìn về hướng Sài Gòn.

Trận đầu trong chuyến “viễn chinh” của chúng tôi đến Tp.HCM thảm bại hoàn toàn. Ngồi trên đống đổ nát mà mình dày công gầy dựng và qua đêm ở công viên với những người bạn, tôi cố gắng để không bị sụp đổ lòng tin và vẫn mãnh liệt nghĩ về ngày mai.

Chúng tôi biết Sài Gòn là mảnh đất đầy tiềm năng để kinh doanh cà phê nhưng hiểu rằng mình chưa đủ sức. Kế hoạch mới của chúng tôi là sẽ mở các điểm kinh doanh ở miền Tây, lấy vùng nông thôn rộng lớn này làm hậu thuẫn cho việc kinh doanh của mình để từ đó làm “bàn đạp bao vây” tiến về Sài Gòn.

Chúng tôi tìm được một đối tác ở Long Xuyên để mở lò rang xay chế biến, phân phối cà phê tại miền Tây. Nhưng chỉ sau một vài tháng, cuộc “hôn phối” vụng về này thất bại hoàn toàn. Tôi còn nhớ rất rõ cảm giác thất trận ê chề khi lục tục cuốn gói với lỉnh kỉnh những lò cà phê quay tay cũ kỹ, ly tách, phin, muỗng... Sự thất bại này giúp tôi rút ra được một bài học: hợp tác làm ăn phải đồng thuận về tư tưởng, về phương thức kinh doanh, và quan trọng nhất là phải chọn đúng đối tác.

Tôi còn nhớ sau khi dọn hết đồ đạc ở Long Xuyên về Sài Gòn, một người bạn chạy chiếc Honda Dame già cỗi đến đón tôi. Chạy đến công viên Bách Tùng Diệp (ngã ba Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Lý Tự Trọng, Q.1) thì chiếc xe già gãy làm đôi! Tôi không bao giờ quên hình ảnh chúng tôi qua đêm ở công viên. Mỗi lần đi ngang nơi này, tôi vẫn nhớ như in những cảm xúc của sự thất bại ở Long Xuyên và tình bạn ấm áp dưới gốc đa của buổi tối ngày nào.

Thất bại ở Long Xuyên làm chúng tôi cạn kiệt hoàn toàn về vốn liếng, công việc kinh doanh cà phê ở Buôn Ma Thuột cũng gặp nhiều bế tắc, chỉ cầm cự từng ngày. Vốn liếng đâu để tiếp tục duy trì công việc kinh doanh? Lúc đó, chúng tôi có một người bạn thân đã đi làm và dành dụm mua được một chiếc xe Dream. Thời điểm đó chiếc xe là cả một tài sản lớn của anh. Vậy mà chúng tôi dám ngỏ ý mượn xe đem bán làm vốn kinh doanh. Chúng tôi đặt vấn đề: cho mượn thì coi như đã mất và nếu thành công thì chúng tôi trả lại. Người bạn đồng ý.


Bây giờ tôi có thể đủ sức mua cả ngàn chiếc xe Dream nhưng vẫn không có chiếc xe nào quí giá bằng chiếc xe tình bạn của chúng tôi ngày đó. Có tình bạn vô giá đó tôi mới có được ngày hôm nay.

Từ một quán cà phê miễn phí

Tại thời điểm chúng tôi bắt đầu thăm dò thị trường Sài Gòn, mỗi hãng cà phê đều tài trợ cho một quán kha khá khoảng 5 triệu đồng/tháng - quá hớp đối với tài sản chúng tôi đang có chỉ là chiếc xe máy. Chúng tôi đi tìm những điểm bán cà phê nổi tiếng để học hỏi, tìm hiểu bí quyết chế biến rang xay cà phê ngon và được họ “trải lòng” rất đơn giản - bí quyết chỉ có mấy chữ: 10 triệu đồng.

Ngày 20/8/1998 đi vào lịch sử của cà phê Trung Nguyên khi chúng tôi khai trương quán cà phê đầu tiên tại 587 Nguyễn Kiệm (quận Phú Nhuận) với hình thức phục vụ uống cà phê miễn phí trong vòng 10 ngày. Và đó là cú đột phá lịch sử với dân khoái uống cà phê Sài Gòn khi lần đầu tiên có một quán cà phê miễn phí. Có một ông khách khoảng 60 tuổi đến uống và nói với tôi: “Tui uống cà phê ở Sài Gòn đến từng này tuổi nhưng đây là lần đầu tiên được uống cà phê không phải trả tiền”.

Quán đông nghịt suốt ngày đêm vì người ta truyền miệng nhau. Chúng tôi và mấy người bạn phục vụ suốt ngày đêm đến nỗi nói không ra tiếng mà trong lòng thì vui không thể tả. Chúng tôi đã định hình Trung Nguyên là quán cà phê mà khách hàng có thể mua hàng, uống cà phê đối chứng bằng cách đưa ra rất nhiều loại cà phê để khách chọn lựa và hướng dẫn cách thưởng thức cà phê “theo kiểu Trung Nguyên”.

Điều khác biệt nhất của Trung Nguyên đối với tất cả các quán cà phê tại thời điểm đó là chúng tôi giúp cho khách hàng thấy được “chất” của cà phê, thấy được sự khác biệt đặc trưng giữa cà phê Robusta và Arabica, giữa Culi Robusta và cà phê Sẻ, cà phê Chồn...

Quán cà phê này vẫn duy trì hoạt động ở địa điểm cũ nhưng chắc ít ai biết chính từ quán cà phê đầu tiên này chúng tôi đã phát triển lên đến con số 500 quán cà phê tại Việt Nam như hiện nay và tiếp tục mở những quán cà phê Trung Nguyên khác tại nước ngoài.

Tặng cà phê cho Thủ tướng!

Khi còn đi vay cà phê để rang, chúng tôi đã dám bỏ tiền ra đăng ký tham gia một hội chợ ở Nha Trang. Bao nhiêu tiền lời chúng tôi làm ăn được đều dồn hết cho cú tiếp thị đầu đời này. Hễ có cơ hội là chúng tôi tìm cách giới thiệu cà phê của mình. Năm 1995, nghe tin Thủ tướng Võ Văn Kiệt về thăm và làm việc với tỉnh Đắc Lắc, tôi nghĩ ngay: phải giới thiệu cho được cà phê Trung Nguyên của mình với Thủ tướng.

Nhưng tiếp cận thủ tướng để tặng một bịch cà phê là điều không tưởng. Lần nào mon men tiếp cận cũng bị bật ra. Không bỏ cuộc, tôi chuyển sang… tặng những gói cà phê này cho các anh cảnh vệ, với lời nhắn là “quà của nhóm sinh viên Đại học Tây Nguyên kính tặng Thủ tướng”. Sau này có dịp ngồi tiếp chuyện bác Sáu Dân (nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt), tôi nhắc lại kỷ niệm đó và hỏi là bác có nhận được quà không, ông chỉ cười...

Trung Nguyên còn có thể mở rộng diện ra hơn nữa nhưng lúc này chúng tôi sẽ tập trung vào việc kiểm soát và nâng cao chất lượng sản phẩm. Mặc dù nhượng quyền nhưng mục tiêu của Trung Nguyên vẫn là khẳng định tính đồng nhất: mỗi ly cà phê Trung Nguyên dù bạn thưởng thức tại Thành phố Hồ Chí Minh hay ở thị trấn sông nước Năm Căn hoặc trên phố núi Sa Pa đều có chất lượng, hương vị như nhau..."

 
Nghệ thuật expresso của người ý Print

Tại Ý, khoảng những năm 1605, Giáo hoàng Clement VII sau khi nếm thử “thứ nước ma quái” - cà phê - đã nhận xét: “Thức uống ngon thế này mà chỉ dành riêng cho dân Hồi giáo thì sẽ là cái tội. Chúng ta sẽ khuất phục được quỷ Satan và ban phép lành để cà phê trở thành thức uống của người Thiên Chúa giáo.”

Tuy nhiên tiêu dùng cà phê tại Ý thực sự gia tăng từ sau năm 1615 khi nhà thám hiểm - nhà ngôn ngữ học Pietro Della Valle viết ra những lời khen tặng rất đẹp dành cho cà phê: “từ Constantinope trở về quê nhà, tôi sẽ mang theo cà phê để giới thiệu cho mọi người một loại thức uống kỳ diệu mà có lẽ chưa phổ biến”. Nhiều thập niên sau đó, hạt cà phê đã xuất hiện trong các cửa hàng dược phẩm để phục vụ cho những khách hàng có nhu cầu dùng chất kích thích tại Rome.

Theo một số tài liệu, sự xuất hiện của các cửa hàng bán cà phê như một loại hàng hóa (chứ không phải dược phẩm) tại Ý lần đầu tiên là vào năm 1683 tại thành phố Piazza San Marco. Thành công của chúng đến nhanh và chúng trở thành các quán café nhỏ trên khắp thành phố. Đến năm 1750 tại Venice đã tràn ngập các quán café, đến nỗi nhà soạn kịch Carlo Goldoni đã được truyền cảm hứng từ các quán này và sáng tác ra kịch bản La Bottega del Café, trong đó trình bày về hành trình của một chủ quán, người phục vụ và các khách hàng uống cà phê.

Ngoài các quán cà phê thông thường, Venice còn là nơi xuất hiện một số loại hình giải trí thanh nhã khác cũng liên quan đến quán cà phê nhưng dành cho giới thượng lưu Ý: đó là những lâu đài cà phê (coffee palace), trong đó có nhiều gian phòng nhỏ, sang trọng và kín đáo để khách hàng có thể dùng làm nơi tỏ tình hoặc tính toán chuyện chính trị.

Tháng 12/1720 quán Florian (chủ sở hữu là Floriano Francesconi, đã ra đời với kiến trúc mái vòm, bên trong là những bàn cà phê nhỏ, trải khăn nhung, trên tường treo các bức tranh cổ của phương Đông, trang trí quán với những tấm gương nhỏ đã trở thành một trong những quán cà phê đẹp nhất thế giới. Ngoài hành lang có một dàn nhạc giao hưởng. Quán này còn là một trong những quán cà phê đầu tiên cho phép đón khách hàng là phụ nữ. Florian đã khơi mào cho hàng loạt quán café tương tự khác tại Italy đi theo phong cách này: Quadri tại Venice chẳng hạn.

Quadri là quán café của Giorgio Quadri, ông chủ quán này học được cách pha chế cà phê Thổ Nhĩ Kỳ. Tiếp theo là quán Greco tại Rome khai trương năm 1760 và nơi này tập trung được nhiều văn nghệ sĩ. Quán Pedrochi tại Padua khai trương khoảng năm 1815 trình bày nhiều phong cách kiến trúc với đá các loại, bao gồm cả cẩm thạch. Thành phố Trieste có 2 quán nổi danh: Tommaseo và San Marco, còn Turin có quán San Carlo và Torino, trong khi Naples có Gambrinus…. hầu hết những quán café nói trên vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

Mặc dù không phải tất cả các quán café tại Ý đều trang trí thanh lịch và phục vụ những loại cà phê tinh túy, nhưng đại đa số những quán này đều là nơi gặp mặt của văn nghệ sĩ và các chính trị gia. Lombardy có thể được coi là quán cà phê trung tâm, nơi đây giới trí thức Ý gặp nhau và xuất bản một tạp chí tên là Il Caffe (năm 1764, với chủ biên là Pietro Verri). Cứ 10 ngày thì tạp chí này lại ra một số, trong đó các chủ đề nổi bật là: kinh tế, luật pháp, khoa học, chính trị, và văn chương. Verri cùng với những người bạn của ông cũng sáng lập một câu lạc bộ mang tên Societa del Caffe (tạm dịch: Hội đoàn Cà phê) để thảo luận xoay quanh các chủ đề nói trên, theo tinh thần Khai sáng. Tiếp sau đó, sang thế kỷ 19, các quán café Ý là nơi chốn để người ta truyền bá các tư tưởng Tự do. Nhiều nhà bình luận cho rằng nước Ý không thể có sự thống nhất nếu thiếu vắng các quán café như thế này. Quán Florian được coi là nơi đóng vai trò then chốt trong quá trình thống nhất nói trên.

Chỉ đến khi xuất hiện các quán café thì người dân Ý mới bắt đầu tập trung và quan tâm nghiêm túc đến chất lượng của thức uống này. Espresso là hòn ngọc quý giá nhất trên chiếc vương miện cà phê Ý: từ giữa thế kỷ 19 nước Ý đã có nhiều người cố gắng cải thiện chất lượng espresso. Nhằm tạo nên một thức uống tươi, nóng và pha chế nhanh, họ liên tục phát minh ra nhiều loại máy espresso sử dụng hơi nước nóng và lan tỏa khắp châu Âu. Tuy nhiên áp lực hơi nước vẫn chưa mạnh và nước sử dụng còn quá nóng, do đó chất lượng vẫn chưa hoàn hảo. Bước đột phá chỉ bắt đầu từ năm 1948 với chiếc máy của Achille Gaggia.

Đầu tiên ông đã phát minh ra cách để điều chỉnh được nhiệt độ nước và sau đó là kiểm soát được áp lực nước. Với cơ chế sử dụng piston, máy pha cà phê của Gaggia có thể vận hành với áp suất cao hơn hẳn những trang thiết bị cùng thời đó, kết quả là một sản phẩm máy mà người Ý có thể tự hào: sản phẩm espresso được tạo ra có hương vị xuất sắc, tinh tế. Cách tốt nhất để cảm nhận sản phẩm này là ghé vào quán cà phê của người Ý, hoặc hay hơn là đến bar cà phê và ngồi bên quầy để thưởng thức.

Từ bắc chí nam, trên khắp lãnh thổ nước Ý đều có cà phê espresso ngon tuyệt. Những người uống cà phê sành điệu đều tin rằng mỗi barista pha chế espresso của nước Ý đều có bí quyết riêng. Tuy nhiên mọi barista đều dành nhiều thời gian để bảo trì và làm vệ sinh máy móc hàng ngày, hơn nữa họ cẩn thận khi chọn lựa hạt cà phê, phân loại và xay hạt.

Tại nước Ý, hiếm khi người mua chỉ đơn giản là yêu cầu “cho tôi cà phê”, mà người ta sẽ nói cụ thể “ristretto” hoặc “espresso” hay “lungo”. Mỗi loại cà phê pha máy nói trên thường đều sử dụng khoảng 7gr cà phê bột cho một lần dùng. Một số người yêu espresso sẽ yêu cầu 14 gam – tức là double–hot, gấp đôi số lượng bình thường – trong khi lượng nước không thay đổi. Các barista không chỉ là những chuyên gia espresso, mà còn am hiểu việc đánh bọt sữa cho cappuccino: cổ tay họ mềm dẻo khéo léo khi tạo lớp bọt sữa trên bề mặt thức uống này. Cần giải thích thêm rằng cái tên cappuccino phát xuất từ màu của thức uống - màu pha trộn giữa nâu và trắng - giống màu áo (trùm đầu) của các thầy tu dòng Capuchin. Mạnh hơn cà phê cappuccino một chút là dòng sản phẩm macchiato: tức là espresso chỉ thêm với 2 chấm sữa nhỏ. Trong khi đó nhẹ nhàng hơn cappuccino là latte macchiato: sữa rất nhiều và cà phê ít hơn hẳn. Nếu macchiato được rắc thêm một ít hạt coca trên bề mặt thì nó được gọi là marocchino. Người Ý còn thưởng lãm cà phê latte (tiếng Pháp là café au lait): rất nhiều sữa nhưng không đánh bọt. Ngày nay, trong nỗ lực giảm bớt hàm lượng caffeine từ sau Thế chiến thứ II, các quán cà phê Ý đều phổ biến dòng sản phẩm caffe d’orzo: thức uống được ngâm qua lúa mạch rang.

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 5 of 13

Survey

Which of our product lines you care most?
 

Statistics

Content View Hits : 290865

Access Infor

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday150
mod_vvisit_counterThis week791
mod_vvisit_counterThis month3456
mod_vvisit_counterAll532925

Số người trực tuyến

We have 10 guests online

Contact

SONVIET COMPANY

  • Hot line : +8498 4439 233 

M/s AQUAGEM COMPANY

  • Add : W203 , Wonder Futura , Mumbai - Bangalore Highway , Pune 411038 , India 
  • Tel : +91 9822064414