Left direction
TROLLEY
TROLLEY
CASHEW NUT AUTOCLAVING MACHINE (ROTATING BARREL)
CASHEW NUT AUTOCLAVING MACHINE (ROTATING BARREL)
STEAM ON BATCH
STEAM ON BATCH
CONTINUOUS CASHEW NUT AUTOCLAVING MACHINE (CONVEY SCREW)
CONTINUOUS CASHEW NUT AUTOCLAVING MACHINE (CONVEY SCREW)
SIEVER SHAKER (SCREEN SHAKER)
SIEVER SHAKER (SCREEN SHAKER)
BOILER
BOILER
VACUUM PACKING TIN MACHINE
VACUUM PACKING TIN MACHINE
VACUUM PACKING MACHINE (PE)
VACUUM PACKING MACHINE (PE)
VACUUM PACKING MACHINE (COFFEE)
VACUUM PACKING MACHINE (COFFEE)
MEASURE MOISTURE
MEASURE MOISTURE
COFFEE SPINNER MACHINE
COFFEE SPINNER MACHINE
COFFEE GRINDING MACHINE
COFFEE GRINDING MACHINE
COFFEE GRINDING MACHINE
COFFEE GRINDING MACHINE
COFFEE FLOUR MIXING MACHINE
COFFEE FLOUR MIXING MACHINE
MEAL FLOUR MIXING MACHINE
MEAL FLOUR MIXING MACHINE
CASHEW PRESERVING MACHINE
CASHEW PRESERVING MACHINE
CASHEW DRYER
CASHEW DRYER
SCREENING MACHINE
SCREENING MACHINE
CASHEW ROASTING MACHINE
CASHEW ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
CASHEW GRADING MACHINE
CASHEW GRADING MACHINE
RAW CASHEW SIZE SORTING MACHINE
RAW CASHEW SIZE SORTING MACHINE
CASHEW CLASSIFY MACHINE
CASHEW CLASSIFY MACHINE
CASHEW CENTRIFUGE MACHINE
CASHEW CENTRIFUGE MACHINE
HUMIDIFIER
HUMIDIFIER
AUTOMATIC CASHEW SHELLING PROCESSING LINE
AUTOMATIC CASHEW SHELLING PROCESSING LINE
PNEUMATIC SCREW PUMP
PNEUMATIC SCREW PUMP
MÁY BÓC VỎ LỤA NHÂN ĐIỀU
MÁY BÓC VỎ LỤA NHÂN ĐIỀU
CASHEW SHELL SHOOTING MACHINE
CASHEW SHELL SHOOTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
COFFEE ROASTING MACHINE
SHELL PRESS MACHINE
SHELL PRESS MACHINE
CUTTING BLADE A,B,C,D
CUTTING BLADE A,B,C,D
OIL FRYING OVEN
OIL FRYING OVEN
TRAY DRYER
TRAY DRYER
ELEVATOR MACHINE
ELEVATOR MACHINE
AUTOMATIC FEEDER
AUTOMATIC FEEDER
COFFEE VIETNAM
COFFEE VIETNAM
CASHEW NUT CUTTING DESK
CASHEW NUT CUTTING DESK
Right direction
Home News & Events
Decrease font size  Default font size  Increase font size 
Nguồn gốc cà phê Việt Nam Print
Cà phê có thể đã được các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan và Pháp mang hạt sang trồng lẻ tẻ từ các thế kỷ 17, 18 nhưng chính thức và quy mô thì phải đến khi người Pháp chiếm được Việt Nam từng phần và đặt nền bảo hộ lên toàn cõi (1884).

Ảnh: Stirling Noyes
Quý kim là thứ các nhà thám hiểm săn tìm. Nhưng đúng với cái tên “thực dân” (thực là trồng, nuôi), động cơ hàng đầu là tìm ra, thuần hóa và khai thác thứ có đời sống để có thể tăng gia theo cấp số nhân (các loại cây và con) - và những lợi ích kinh tế hầu như vô tận trong cuộc tranh đua thương mại và giành hoặc phá ưu thế độc quyền của các thế lực ngoại địch (như trà, đồ sứ của Trung Quốc; cà phê của khối Ả Rập,…).

Chỉ hai năm sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông là Biên Hòa, Gia Định (trong đó có Sài Gòn) và Mỹ Tho, người Pháp đã lập Thảo cầm viên ngay Sài Gòn để nghiên cứu và thử nghiệm quy mô việc khám phá về cây và con ở mảnh đất này.

Cho đến Cách mạng Pháp 1789, Pháp là nước sản xuất và tiêu thụ cà phê hàng đầu của thế giới, sản xuất chủ yếu ở thuộc địa là quần đảo Antilles ở biển Caribê như Guadeloupe và Martinique… Paris năm đó đã có trên 700 quán cà phê.

Cà phê được người Pháp đưa vào trồng ở Việt Nam chính thức từ năm 1857, từ đảo Martinique và vùng Guyane thuộc Pháp ở châu Mỹ Latin vì có khí hậu và thổ nhưỡng nhiệt đới tương tự Việt Nam. Đầu tiên, loại Arabica được thử ở phía Bắc rồi ở miền Trung (Quảng Trị, Bố Trạch,…), sau khi thu hoạch được chế biến dưới thương hiệu Arabica du Tonkin (cà phê Arabica Bắc Kỳ) và nhập khẩu về Pháp. Sở dĩ loại Arabica được thử nghiệm trước vì có giá trị hơn, nguyên gốc ở Ethiopia, thích hợp với vùng cao nguyên và vùng núi cao từ 800 - 2.000 m, và có nhiệt độ từ 18 - 23 độ bách phân.

Trong khi đó loại Robusta (Mạnh khỏe), giống từ rừng xích đạo châu Phi, có hàm lượng gấp hai lần giống Arabica và thích hợp với nhiệt độ từ 22 - 26 độ và cần lượng nước mưa từ 1,5m - 2m/năm. Đợt thí nghiệm này không thành công, một phần vì đất đai định cư lâu không thích hợp cho việc mở rộng các đồn điền công nghiệp hóa, một phần vì chính trị không ổn định do không có quy chế thuộc địa. Thói quen ở đây lại là văn hóa trà như Trung Quốc.

Từ năm 1925, sau những cuộc khảo sát quy mô kỹ lưỡng về khí hậu và thổ nhưỡng cũng như những suy tính về xã hội, chính trị, người Pháp đem cà phê trồng thử nghiệm ở vùng Tây nguyên, đặc biệt là cao nguyên Lang Biang (Lâm Đồng) và Đắk Lắk (Ban Mê Thuột), với đồn điền và chủ nhân là người Pháp, nhân công chủ yếu là người dân tộc. Ở Lang Biang thích hợp với giống Arabica hơn, còn ở Đắk Lắk là giống Robusta. Đến 2001, Việt Nam chính thức trở thành quốc gia xuất khẩu cà phê thứ hai trên thế giới, hằng năm thu về cho ngân sách quốc gia hơn một tỉ USD.

Từ đầu thế kỷ 20, cà phê là thức uống mới từ thị dân lan dần đến nông thôn. Tính chất cộng đồng và thân thiện của cà phê khiến người ta tỉnh táo, có thể làm việc lao động chân tay cũng như trí óc. Quán cà phê có thể thích nghi với cà phê filter (lọc) cho từng cá nhân, hoặc cà phê đem qua ấm lọc (percolateur) hay cà phê bít tất nhúng ngâm trong nước sôi để phục vụ cho nhiều người bằng lối pha sẵn với giá bình dân. Quán cà phê trở thành nơi giao lưu xã hội, vừa là trung tâm sinh hoạt, vừa là trung tâm thông tin, là môi trường giao dịch làm ăn thương mại thích hợp suốt cả ngày.

Trong giai đoạn chiến tranh 1960 - 1975, các quán cà phê với âm nhạc lãng mạn, trữ tình, có cả màu sắc bi thương như những nhạc khúc Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên,… đã trở thành văn hóa của cả một thế hệ trẻ trong cuộc chiến. Sau 1975, cà phê trở ngược ra Bắc, trở thành nét sinh hoạt toàn quốc với khung cảnh thơ mộng, thiên nhiên - đem lại sự tươi mát cho những thành thị ngày càng sôi nổi với nhịp sống thị trường toàn cầu hóa.

Văn hóa cà phê ấm cúng, lãng mạn, tĩnh lặng nơi người ta có thể thưởng thức âm nhạc, sách báo, tranh vẽ, mỹ thuật, hoặc tâm sự trao đổi về tri thức hoặc tình cảm. Vì thế, muốn biết một người, chỉ cần xem người đó giải trí thích thú nhất ở đâu…
 
Cà phê - Nguồn gốc & Xuất xứ Print
Cà phê (gốc từ café trong tiếng Pháp) là một loại thức uống màu đen có chứa chất caffein và được sử dụng rộng rãi, được sản xuất từ những hạt cà phê được rang lên, từ cây cà phê. Cà phê được sử dụng lần đầu tiên vào thế kỉ thứ 9, khi nó được khám phá ra từ vùng cao nguyên Ethiopia. Từ đó, nó lan ra Ai Cập và Yemen, và tới thế kỉ thứ 15 thì đến Armenia, Persia, Thổ Nhĩ Kỳ và phía bắc Châu Phi. Từ thế giới Hồi giáo, cà phê đến Ý, sau đó là phần còn lại của Châu Âu, Indonesia và Mĩ. Ngày nay, cà phê là một trong những thức uống thông dụng toàn cầu.

Hiện nay, cây cà phê được trồng tại hơn 50 quốc gia trên thế giới, trong đó có một số nước xuất khẩu cà phê. Hạt cà phê được lấy từ hạt của các loài cây thuộc họ cà phê (Rubiaceae). Ba dòng cây cà phê chính là Coffea arabica (Cà phê Arabica) – cà phê chè – và Coffea canephora (Robusta) – cà phê vối cà phê mít - Coffea excelsa – với nhiều loại khác nhau. Chất lượng hay đẳng cấp của cà phê khác nhau tùy theo từng loại cây, từng loại hạt và nơi trồng khác nhau. Cà phê Robusta được đánh giá thấp hơn so với cà phê Arabica do có chất lượng thấp hơn và giá cả theo đó cũng rẻ hơn. Loại cà phê đắt nhất và hiếm nhất thế giới tên là Kopi Luwak (hay "cà phê chồn") của Indonesia và Việt Nam. Đây không phải là một giống cà phê mà một cách chế biến cà phê bằng cách dùng bộ tiêu hóa của loài cầy. Giá mỗi cân cà phê loại này khoảng 20 triệu VND (1300 USD) và hàng năm chỉ có trên 200 kg được bán trên thị trường thế giới.

Không giống như các loại đồ uống khác, chức năng chính của cà phê không phải là giải khát, mặc dù người dân Mỹ uống nó như thức uống giải khát. Nhiều người uống nó với mục đích tạo cảm giác hưng phấn. Theo một nghiên cứu được công bố vào tháng 8 năm 2005 của nhà hoá học Mỹ Joe Vinson thuộc Đại học Scranton thì cà phê là một nguồn quan trọng cung cấp các chất chống ôxi hóa (antioxidant) cho cơ thể, vai trò mà trước đây người ta chỉ thấy ở hoa quả và rau xanh. Những chất này cũng gián tiếp làm giảm nguy cơ bị ung thư ở người.

Cà phê đóng một vai trò quan trọng trong xã hội xuyên suốt lịch sử hiện đại. Ở Châu Phi và Yemen, nó được dùng trong các nghi lễ tôn giáo. Kết quả là các nhà thờ ở Ethiopia cấm sử dụng cà phê cho đến triều đại Menelik II của Ethiopia. Nó cũng bị cấm ở Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ trong thế kỉ 17 vì lý do chính trị.

Cà phê là mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Năm 2004, cà phê được xuất khẩu nông nghiệp tại 12 nước, và vào năm 2005, nó xuất khẩu nông nghiệp hợp pháp thứ 7 trên thế giới tính theo giá trị.

Một vài tranh cãi liên hệ tới sự trồng trọt cà phê và ảnh hưởng của nó đến môi trường. Một vài ý kiến khẳng định mối quan hệ giữa sự tiêu thụ cà phê và hoàn cảnh y học hiện tại; và hiệu ứng tích cực hay tiêu cực của cà phê vẫn còn được tranh luận.

Từ nguyên

Từ "cà phê" trong tiếng Việt có gốc từ chữ café của tiếng Pháp. Giống như các ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, café có gốc từ kahveh của tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và kahveh đến từ qahwa của tiếng Ả Rập.

Trong tiếng Anh, từ coffee xuất hiện lần đầu tiên từ sớm cho đến giữa những năm 1600, nhưng thể sớm nhất của từ này đến vào khoảng 10 năm cuối của những năm 1500. Xuất phát từ từ caffè của tiếng Ý. Từ trên được giới thiệu ở châu Âu thông qua những người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman kahve có nguồn gốc từ tiếng Ả Rập: قهوة, qahweh. Nguồn gốc nguyên thủy của từ Ả Rập là không rõ ràng; nó cũng có nguồn gốc tôn giáo Kaffa ở phía Tây Ethiopia, nơi cà phê được trồng trọt, hoặc sự bới đi từ qahwat al-būnn', có ý nghĩa là "rượu của đậu" trong tiếng Ả Rập. Ở Eritrea, "būnn" (cũng có nghĩa là "rượu của đậu" trong Tigrinya) cũng được dùng. Tên Amharic và Afan Oromo cho cà phê là bunna.

Xuất xứ

Theo một truyền thuyết đã được ghi lại trên giấy vào năm 1671, những người chăn dê ở Kaffa (thuộc Ethiopia ngày nay) phát hiện ra một số con dê trong đàn sau khi ăn một cành cây có hoa trắng và quả màu đỏ đã chạy nhảy không mệt mỏi cho đến tận đêm khuya. Họ bèn đem chuyện này kể với các thầy tu tại một tu viện gần đó. Khi một người chăn dê trong số đó ăn thử loại quả màu đỏ đó anh ta đã xác nhận công hiệu của nó. Sau đó các thầy tu đã đi xem xét lại khu vực ăn cỏ của bầy dê và phát hiện ra một loại cây có lá xanh thẫm và quả giống như quả anh đào. Họ uống nước ép ra từ loại quả đó và tỉnh táo cầu nguyện chuyện trò cho đến tận đêm khuya. Như vậy có thể coi rằng nhờ chính đàn dê này con người đã biết được cây cà phê.

Một quán cà phê cổ ở Palestine
Người ta tin rằng tỉnh Kaffa của Ethiopia chính là vùng đất khởi nguyên của cây cà phê. Từ thế kỉ thứ 9 người ta đã nói đến loại cây này ở đây. Vào thế kỉ thứ 14 những người buôn nô lệ đã mang cà phê từ Ethiopia sang vùng Ả Rập. Nhưng tới tận giữa thế kỉ thứ 15 người ta mới biết rang hạt cà phê lên và sử dụng nó làm đồ uống. Vùng Ả Rập chính là nơi trồng cà phê độc quyền. Trung tâm giao dịch cà phê là thành phố cảng Mocha, hay còn được gọi là Mokka, tức là thành phố Al Mukha thuộc Yemen ngày nay.

Cách thức pha chế cà phê truyền thống của người Ethiopia có lẽ là cách thức cổ xưa nhất. Hạt cà phê được cho vào một cái chảo sắt to và rang lên, sau đó được nghiền vụn ra hoặc cho vào cối giã. Chỗ hạt giã vụn đó được trộn với đường trong một cái bình gọi là jebena (một loại bình cổ thon có quai), nấu lên và đổ ra bát.
 
10 sự thật về cà phê Print

1. Cafein trong cà phê có thể gây chết người


Một người có thể bị tử vong bởi uống cà phê nếu anh ta dùng 80 tới 100 cốc cùng một lúc.

2. Cà phê có lợi cho sức khỏe

Một nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ cho thấy cà phê đứng đầu trong những loại thực phẩm có chứa chất chống oxy hóa, tiếp đến là trà đen, chuối, các loại đậu, ngô. Vì vậy một, hai tách cà phê mỗi ngày sẽ tốt cho sức khỏe của bạn.

3. Cà phê giúp chị em hưng phấn hơn

Các nhà khoa học cho biết cafein trong cà phê làm tăng khả năng tình dục của chị em phụ nữ. Nhưng điều này chỉ đúng với những người không uống cà phê thường xuyên.

4. Cà phê giúp giảm đau

Lý do là cafein trong 2 tách cà phê tương đương với một viên thuốc giảm đau. Nhưng một lần nữa, công hiệu giảm đau chỉ có tác dụng với những người không dùng cà phê thường xuyên.

5. Gây mất ngủ


Đó là lý do các chuyên gia khuyên chúng ta tránh uống cà phê trong vòng 6 giờ đồng hồ trước khi đi ngủ.

6. Loại “cà phê không chứa cafein” được bày bán trong siêu thị thực ra vẫn chứa cafein

Lượng cafein trong 10 tách loại này tương đương với 1 cốc bình thường

7. “Cà phê không chứa cafein” có hóa chất

Hạt cà phê được chế biến trong nồi hơi giúp lớp cafein nổi trên bề mặt. Để rửa sạch cafein, người ta dùng loại chất hóa học CH2Cl2 (methylene chloride).

8. Oxy hóa là chất tạo nên vị đắng

Vị đắng của cà phê được tạo ra phần lớn nhờ chất chống oxy hóa chứ không phải cafein

9. Rang cà phê là giai đoạn quan trọng nhất

Cà phê có ngon hay không đều phụ thuộc vào quá trình này. Ở 400 độ C, hạt cà phê bắt đầu chảy dầu mang lại mùi thơm đặc trưng cho loại thức uống này. Dầu càng nhiều, cà phê càng ngon.

10. Cà phê được phát hiện bởi Dê


Một nghìn năm về trước, tại một sườn đồi ở châu Phi, một đàn dê đã bị “mất ngủ” sau khi ăn phải những quả cà phê đỏ mọng. Người chăn dê phát hiện ra điều kì lạ này và kể lại với một vài mục sư, và cà phê ra đời.

 
Cà phê chồn: Giai thoại và kinh doanh Print
Khoảng 100 năm trước, khi cây cà phê được người Pháp đưa về Việt Nam trồng thì trong giới thượng lưu bấy giờ đã nhắc đến cà phê chồn - đặc sản mang hương vị độc đáo mà không kiểu pha chế nào có thể thay thế được. Theo năm tháng, tiếng thơm của cà phê chồn được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Tại hai tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk có một số doanh nhân nghĩ ra cách nuôi chồn (cầy hương) để thu về sản phẩm cà phê chồn. Đó là mô hình độc đáo mở ra một hướng mới: kinh doanh cà phê gắn với tham quan, du lịch...

Sản xuất cà phê theo kiểu “độc”

Ngày 1-5-2013, chúng tôi có dịp tham quan trang trại cà phê của ông Nguyễn Quốc Minh (luật sư, doanh nhân TPHCM) tại số 135E Hoàng Hoa Thám, P10, TP.Đà Lạt (khu Trại Hầm). Tại đây chủ nhân mở một quán cà phê với kiểu thiết kế mộc để bạn bè, du khách có dịp thưởng thức cà phê chồn. Trang trại rộng 2 héc-ta, chỉ trồng toàn cà phê moka, mà theo lời chủ nhân thì giống này vốn thích hợp với khí hậu, thổ nhưỡng Đà Lạt, đạt chất lượng và giá thành cao hơn các loại khác. Bên trong trang trại có những dãy chuồng nuôi nhốt 113 con chồn, 7 con khác gồm một gia đình chồn được thả ngoài vườn cà phê có lưới bao quanh để chúng tự do đi lại kiếm ăn.

Chồn tên khoa học là Viverridae, có khả năng sản sinh ra xạ hương với mùi thơm giống cơm nếp mới, có giá trị cao dùng trong công nghệ sản xuất nước hoa.

Theo ông Minh, mỗi ngày một con chồn tiêu thụ khoảng 20-30 gram trái cà phê tươi, cho ra khoảng 10 gram cà phê nhân. Do đây không phải mùa nên nhân công phải tìm mua trái cà phê chín cho chồn ăn. Là loài tinh ranh, sành sỏi trong ăn uống nên dù chủ nhân đã lựa những trái cà phê chín đỏ nhưng chồn vẫn tự chọn trái xơi chứ không ăn tạp. Thường chúng chỉ tiêu thụ 15 - 30% lượng thức ăn được cung cấp. Ngoài trái cà phê, để bảo đảm chất dinh dưỡng cho chồn, chúng còn được bổ sung thịt gà, bò, heo, cháo đường, chuối... Một ký cà phê chồn sản xuất ra, ông Minh bán với giá 20 triệu đồng, 200.000 đồng/ly. Hiện ông đang có mối đặt hàng tại một số khách sạn 5 sao và các khu rerost. Ngoài kinh doanh, đây còn là nơi ông tiếp đón bạn bè đến tham quan du lịch, nghỉ dưỡng. Ông cho biết đã ấp ủ ý tưởng này suốt 10 năm và các công đoạn để sản xuất ra ly cà phê chồn khá phức tạp: chồn sau khi nhằn phần vỏ trái cà phê chín mọng, chỉ có cùi được tiêu hoá, còn hạt được bài tiết ra, bao bên ngoài nhân là lớp vỏ thóc mỏng. Lớp vỏ này được bóc bỏ, rửa, sấy thật sạch rồi mới đem chế biến. Quá trình tiêu hoá tạo ra sự lên men của enzyme trong dạ dày chồn. Chính công đoạn đó sẽ tạo ra hương vị cà phê đặc biệt, độc đáo, chỉ có ở loài vật này mà thôi.

Cà phê chồn: Giai thoại và kinh doanh, Thị trường - Tiêu dùng, ca phe chon, cafe, trang trai ca phe, ly ca phe, dac san ca phe, thi truong, tin tuc, tin hot, tin hay, vn

Doanh nhân Nguyễn Quốc Minh giới thiệu về kỹ thuật nuôi chồn

Ý tưởng kinh doanh hình thành từ lịch sử

Truyền thuyết cà phê chồn từng được lưu truyền trong dân gian. Khoảng nửa đầu thế kỷ 20, miền cao nguyên còn thưa thớt dân cư và những đồn điền cà phê vẫn nằm xen kẽ với những cánh rừng bạt ngàn, vốn là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật hoang dã, trong đó có chồn. Hàng năm, cứ vào mùa cà phê từ tháng 8 đến tháng 12, khi những chùm cà phê trên cây chín rộ, các chú chồn lại tìm đến thưởng thức và lựa chọn rất kỹ bằng khả năng ngửi siêu phàm. Trái cà phê chín mọng sau khi tiêu hóa, phần hạt sẽ được thải ra thành từng cục. Nông dân thu gom lại, làm sạch và chế biến thành loại cà phê mà những người sành điệu đã xếp nó vào loại hảo hạng.

Khoảng 7-8 năm trở lại đây, một số doanh nghiệp như Cà phê Trung Nguyên, Trang trại cà phê chồn của anh Phương tại thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng, của hai anh em Khánh - Giang tại xã Krông Buk, huyện Krông Păk, tỉnh Đắk Lắk, của ông Thưởng tại thôn 1 thị trấn K’Bang huyện K’Bang - Kon Tum, Công ty TNHH Kiên Cường tại phường Tân Tiến, TP. Buôn Ma Thuột... đã và đang phát triển, tạo nên sản phẩm cà phê nổi tiếng này. Ngoài Công ty Trung Nguyên trực tiếp chế biến cà phê chồn, các doanh nghiệp còn lại chủ yếu bán nguyên liệu thô, giá dao động từ 800 ngàn - 1,8 triệu đồng/kg nhân. Theo hai anh Khánh - Giang  thì nuôi cầy hương để có cà phê chồn thứ thiệt không quá khó nhưng dày công và tốn kém. Phải làm chuồng riêng cho mỗi con và chăm sóc sức khoẻ, bệnh dịch cho chúng thật kỹ. Mỗi năm, chồn mẹ có thể đẻ hai lứa, mỗi lứa vài ba con, giá một con khoảng 5-6 triệu đồng... Có ý kiến cho rằng chồn nuôi thả tự nhiên ăn trái cà phê sẽ cho ra loại hạt thơm ngon hơn từ chồn nuôi nhốt, song các doanh nghiệp phủ nhận việc này.

Được biết khoảng năm 2007, Công ty Trung Nguyên đã sản xuất thương hiệu cà phê chồn của riêng mình với tên gọi Weasel, giá 3.000USD/kg, cao hơn rất nhiều so với Kopi Luwak của Indonesia (chỉ 600USD). Ông Đặng Lê Nguyên Vũ - Giám đốc của hệ thống cà phê Trung Nguyên -  cho biết, công ty thu mua nguyên liệu thô từ nông dân, thu gom được trong các khu vườn nuôi thả tự nhiên chứ không phải những nơi nuôi nhốt chồn, ép chúng ăn cà phê sẵn có, với giá từ 1 đến 10 triệu đồng/kg, sau đó sản xuất qua nhiều công đoạn cầu kỳ như thời gian từ lúc chồn cho ra sản phẩm đến khi bắt đầu chế biến không nên quá 24 tiếng, hạ thổ  343 ngày... Hàng năm, Trung Nguyên cũng chỉ sản xuất được từ 40 đến 50kg. Do đó, sản phẩm này hiện chỉ bán theo đơn đặt hàng của các khách VIP.

Tìm hiểu tại các doanh nghiệp lập trang trại và nuôi chồn để sản xuất loại cà phê trên  được biết hiện nay đàn chồn của họ đã lên đến cả trăm con, mỗi năm cho ra hàng trăm ký nguyên liệu thô. Có lúc không tìm được nơi tiêu thụ, giá cả thì “trên trời” nên bắt đầu thấy nản. Chẳng hạn như Công ty TNHH Kiên Cường có khách nước ngoài đặt mua nhưng vì e ngại họ sẽ lấy mất thương hiệu nên chủ doanh nghiệp là ông Hoàng Mạnh Cường vẫn đang loay hoay tìm hướng. Trong khi đó, ăn theo loại cà phê này, một số quán trong thực đơn ghi rõ là cà phê chồn nhưng chỉ bán với giá vài chục ngàn đồng/ly(!) làm ảnh hưởng không nhỏ đến thương hiệu.

Việc tạo ra sản phẩm cà phê chồn xem ra không hề khó, nhưng nếu không có bước đi đúng hướng, e rằng sản phẩm này trên thị trường Việt Nam đang tiềm ẩn nguy cơ vàng thau lẫn lộn. Đã đến lúc cơ quan chức năng cần hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc định hướng, phát triển, quảng bá cà phê chồn của Việt Nam để thương hiệu này ngày càng phát triển.

 
Đặng Lê Nguyên Vũ - Người được tạp chí Forbes tôn vinh là "vua cafe Việt" Print
Ông Vũ cho rằng văn hóa Việt Nam có thể được miêu tả bằng hai hình tượng dân gian rùa - rồng, trong đó, Trung Nguyên có hai phần là rùa và ba phần là rồng.

Cùng với Chủ tịch Vinamilk Mai Kiều Liên, Đặng Lê Nguyên Vũ - Chủ tịch công ty cafe Trung Nguyên là một trong số những doanh nhân Việt hiếm hoi được Forbes tôn vinh và ca ngợi. Gần đây, Scott Duke Harris - phóng viên của Forbes còn đến gặp "vua cafe Việt" để nghe ông chia sẻ những bí quyết kinh doanh và dự định trong tương lai.

Khi không phải điều hành Trung Nguyên ở TP HCM, Đặng Lê Nguyên Vũ lại đến nghỉ ngơi tại căn nhà trên cao nguyên với chuồng ngựa 120 con của mình. Theo giới doanh nhân phương Tây ở Việt Nam, tài sản cá nhân của ông Vũ có thể lên tới 100 triệu USD. Đây là một con số khá lớn đối với quốc gia chỉ có thu nhập bình quân đầu người 1.300 USD một năm như Việt Nam.

Ngày hôm đó, ông Vũ phải ra Hà Nội gặp Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp để bàn thảo về chiến lược cho cafe Việt Nam. Ông chỉ ra rằng Việt Nam và phần lớn các quốc gia trồng cafe khác đều là các nước nhiệt đới, và rất nghèo. Bán được 20 USD cafe, họ mới lãi 1 USD và phần lớn lợi nhuận đều rơi vào tay Nestlé hay Starbucks.



Đặng Lê Nguyên Vũ là ông vua của ngành cafe Việt Nam. Ảnh: Trungnguyen.com.vn

Ông tự hỏi: “Vì sao chúng ta cứ để tình trạng đó tiếp diễn hết năm này đến năm khác?”. Trung Nguyên hiện đã xuất khẩu cafe sang 60 quốc gia và dần tiến sâu vào thị trường Mỹ - Trung Quốc. Vì vậy, ông tin rằng Việt Nam có thể tiến xa hơn trong chuỗi giá trị của ngành công nghiệp tỷ đô này.

Theo ông, Việt Nam rất có tinh thần trọng thương và “Đất nước không thể mạnh nếu thiếu những cá nhân giàu có”. Năm 2011, Trung Nguyên đạt doanh thu 151 triệu USD và dự kiến tăng trưởng 78% năm nay. Ông dự định niêm yết công ty trong 2 năm nữa, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên sàn quốc tế. Ngoài ra, 800 triệu USD cũng sẽ được Trung Nguyên đầu tư vào cơ sở vật chất trong 10 năm tới.

Thừa nhận những căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc có thể gây ảnh hưởng đến việc kinh doanh, nhưng ông vẫn rất tự tin: “Chúng tôi kỳ vọng mỗi người Trung Quốc có thể tiêu 1 USD hàng năm cho café Trung Nguyên”.

Khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới năm 1986, Đặng Lê Nguyên Vũ còn là một học sinh phổ thông. Thời đó, người ta nói rằng muốn làm kinh doanh thì cần phải có “ô dù”. Vũ cũng có ô, nhưng tuổi thơ của ông lại là những ngày bẻ ngô, chăm lợn và giúp mẹ đóng gạch. Ông là một học sinh giỏi và sau đó còn đỗ vào khoa Y của Đại học Tây Nguyên ở Buôn Ma Thuột - kinh đô cafe của Việt Nam.

Tuy nhiên, khi đang học năm thứ 3, ông chợt nhận ra mình không muốn trở thành một bác sĩ. Và vì thế, ông bắt đầu gây dựng một thương hiệu cafe cho riêng mình. Ban đầu, vốn liếng của Vũ chỉ là niềm tin mà người trồng cafe đặt vào ông. Ngày ngày, Vũ kỳ cạch giao cafe bằng xe đạp, rồi sau đó mới đổi sang xe máy. 15 năm sau, Trung Nguyên đã phát triển rực rỡ với 3.000 nhân viên và một đội xe tải hùng hậu.

Đặng Lê Nguyên Vũ còn có sở thích sưu tập tượng của các danh nhân thế giới như Mao Trạch Đông, Napoleon, Balzac hay Beethoven. Ông nói: “Những thay đổi lớn được tạo ra bởi các cá nhân, chứ không phải một nhóm người”.

Trong cuộc nói chuyện với các lãnh đạo, Vũ đã trình bày chiến lược “đánh cụm” để đưa Việt Nam từ quốc gia chỉ chuyên trồng đến việc trở thành một nước rang xay, chế biến và xuất khẩu cafe. Ông giải thích: “Kinh tế đang tăng trưởng, vì thế, mô hình cũ không còn phù hợp nữa. Chúng ta cần công thức mới để thành công”.

Đặng Lê Nguyên Vũ còn chia sẻ, thay vì sử dụng thuyết âm - dương, văn hóa Việt Nam có lẽ phù hợp hơn với hai hình ảnh dân gian rùa và rồng. Rùa là động vật kiên cường, cần cù, chăm chỉ. Còn rồng là là biểu tượng của sự may mắn, dám ước mơ và hành động.

Ông nói: “Nếu không dám ước mơ, làm sao bạn có thể biến nó thành hiện thực? Và nếu không hành động, chúng ta sẽ không bao giờ có thành quả”. Khi được hỏi về tỷ lệ rùa và rồng trong công thức thành công của Trung Nguyên, ông Vũ đã trả lời: “Chúng tôi có hai phần là rùa và ba phần là rồng”.
 
Cà phê phân voi Thái thách thức cà phê chồn Print

 

Loại cà phê trộn lẫn mang tên Black Ivory, được làm từ các hạt cà phê đã được voi ăn và thải ra, đang được quảng bá có thể tạo ra một tách cà phê với vị êm dịu.

Nhưng giá của nó là món tiền cao ngất ngưởng bởi chuỗi khách sạn Anantara đã bán nó với giá 1.100 USD mỗi kg. Mức giá này biến Black Ivory là một trong những loại cà phê trộn có giá đắt nhất thế giới.

"Hoạt động nghiên cứu cho thấy trong quá trình tiêu hóa, enzymes của voi sẽ chuyển hóa protein của cà phê. Do protein là một trong những yếu tố chính tạo nên vị đắng cho cà phê, việc giảm bớt cà phê khiến nó gần như không còn vị đắng", Anantara cho biết. Công ty cũng bán lẻ thứ cà phê đặc biệt này với giá 50 USD cho hai cốc.

Cà phê từ phân voi được cho là có vị đậm. Ảnh minh họa ABCNews.
Cà phê từ phân voi được cho là có vị đậm. Ảnh minh họa ABCNews.

Sau khi lũ voi đã ăn no các hạt cà phê tươi, những hạt thải ra theo đường tiêu hóa của chúng sẽ được các quản tượng thu lại và đem phơi khô. Tiến trình này diễn ra tại trung tâm cứu hộ voi của khách sạn nằm ở bắc Thái Lan, nơi khoảng 30 con voi đang sống cùng các quản tượng và gia đình họ.

Black Ivory không phải là loại cà phê trộn lẫn đầu tiên được tạo ra theo cách thức đặc biệt này.

Tại Philippines, Việt Nam, Indonesia, người ta cũng làm cà phê chồn theo cách thức tương tự và bán với giá cao không kém. Một cửa hàng cà phê ở New York đã bán cà phê chồn với giá tới 748 USD mỗi kg.

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 8 of 13

Survey

Which of our product lines you care most?
 

Statistics

Content View Hits : 307532

Access Infor

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday194
mod_vvisit_counterThis week448
mod_vvisit_counterThis month3914
mod_vvisit_counterAll571779

Số người trực tuyến

We have 9 guests online

Contact

SONVIET COMPANY

  • Hot line : +8498 4439 233 

M/s AQUAGEM COMPANY

  • Add : W203 , Wonder Futura , Mumbai - Bangalore Highway , Pune 411038 , India 
  • Tel : +91 9822064414